THẦY STÊPHANÔ NGUYỄN KHẮC DƯƠNG: MỘT ĐỜI ĐI TÌM, MỘT ĐỜI ĐƯỢC DẪN VỀ
Lm. Anmai CSsR
Có những người khi qua đời, người ta nhớ đến một chức vụ. Có những người, người ta nhớ đến một công trình. Có những người, người ta nhớ đến những cuốn sách đã viết, những lớp học đã dạy, những học trò đã đào tạo. Với thầy Stêphanô Nguyễn Khắc Dương, tất cả những điều ấy đều có thể kể ra, nhưng dường như vẫn chưa chạm đến phần sâu nhất của đời thầy. Nếu phải chọn một hình ảnh để đứng lặng trước cuộc đời ấy, tôi muốn chọn hình ảnh một con người đi tìm. Đi tìm từ khi còn là cậu bé lớn lên trong một gia đình Nho học ở Hương Sơn, Hà Tĩnh. Đi tìm khi bước vào một ngôi trường Công giáo ở Huế. Đi tìm khi đến ở nơi cửa chùa, lắng nghe các vị cao tăng. Đi tìm khi lãnh nhận Bí tích Rửa tội và mang tên vị tử đạo đầu tiên là Stêphanô. Đi tìm giữa đời tu Phanxicô, những năm tháng học triết ở Pháp, những lần gõ cửa một nếp sống tu trì khác. Đi tìm ngay cả khi đã đứng trên bục giảng, đã trở thành người mà bao thế hệ kính trọng gọi là “thầy”. Và đến tối 28 tháng 9 năm 2026, cuộc đi tìm lâu hơn một thế kỷ ấy khép lại trong sự thinh lặng của cái chết, để người tin Chúa dám hy vọng rằng thầy được gặp Đấng mà cả đời mình đã thao thức hướng về.
Tôi không muốn biến cuộc đời thầy thành một câu chuyện quá trơn tru, như thể mọi ngã rẽ đều sáng rõ từ đầu, mọi mất mát đều lập tức hóa thành bài học, mọi câu hỏi đều đã có đáp án. Chính nét không trơn tru ấy làm cho hành trình của thầy gần với chúng ta. Đức tin của một người không nhất thiết bắt đầu bằng một tia sáng chói lòa. Có khi nó bắt đầu bằng một lần thi không đậu, một ngôi trường người mẹ chọn thay, một người thầy tận tụy, một bầu khí sống khiến đứa trẻ nhận ra nơi đây có điều gì đó khác. Một bài nghiên cứu về cuộc đời thầy lưu ý rằng năm 1938, sau khi không đậu vào trường Quốc Học Huế, thầy được mẹ cho vào học trường Thiên Hựu. Nhìn lại, thầy đọc biến cố ấy dưới ánh sáng quan phòng.
Nhưng đối với cậu học trò lúc bấy giờ, đó trước tiên hẳn vẫn là một cánh cửa đóng lại và một cánh cửa khác bất ngờ mở ra. Tôi dừng rất lâu ở chỗ ấy. Bao nhiêu lần chúng ta đánh giá một cuộc đời quá sớm, chỉ vì thấy một cánh cửa vừa đóng? Bao nhiêu lần một người trẻ nghĩ mình đã thất bại, trong khi chính tại con đường vòng ấy, họ sắp gặp những con người sẽ thay đổi đời mình?
Thầy không sinh ra trong một gia đình Công giáo để chỉ việc bước theo con đường đã được vạch sẵn. Gia phong Nho học là phần đất đầu tiên nuôi lớn tâm trí thầy. Đó không phải thứ hành lý thầy phải vứt bỏ để đến với Đức Kitô. Khi đọc những trang thầy viết về thời học ở Pháp, tôi nhận ra thầy ý thức rất rõ một “hạt nhân Đồ Nho” còn ở trong mình. Thầy không tiếp nhận nguyên khối những gì được gọi là văn minh Tây phương chỉ vì mình đã trở thành Kitô hữu; thầy phân định, phản ứng, có lúc không thấy mình được nuôi dưỡng bởi thứ triết học chỉ còn là những khái niệm xa đời sống. Chính thầy kể trong hồi ký rằng thời du học, điều thôi thúc thầy hơn cả không phải một tấm bằng hay việc hấp thụ mọi điều của văn hóa Âu Tây, mà là tìm một nếp tu. Những lời tự thuật ấy cho thấy một người có khả năng học hỏi sâu rộng nhưng không bằng lòng dùng tri thức như chỗ trú cuối cùng của tâm hồn.
Đời thầy vì vậy làm tôi nghĩ nhiều về cuộc gặp gỡ giữa các truyền thống trong lòng một con người Việt Nam. Nho giáo trao cho thầy một ý thức nghiêm túc về việc tu thân, về đạo làm người, về câu hỏi sống sao cho xứng đáng. Cuộc tiếp xúc với Phật giáo đặt thầy trước một lối tìm kiếm chiều sâu và giải thoát mà thầy đã thực sự lắng nghe, chứ không chỉ đứng ngoài nhìn. Rồi Đức Kitô đi vào đời thầy không như một đề tài để thắng trong tranh luận, nhưng như một lời mời gọi phải đem cả cuộc đời ra trả lời. Năm 1946, thầy từng trọ học tại chùa Linh Quang ở Huế và học hỏi nơi các vị cao tăng; ngày 9 tháng 1 năm 1949, thầy lãnh nhận Bí tích Thánh tẩy tại giáo xứ Nghĩa Yên thuộc Giáo phận Vinh, nhận tên thánh Têphanô, thường viết là Stêphanô. Hai mốc ấy ở gần nhau trong một bản tiểu sử, nhưng khoảng đường bên trong giữa chúng không thể gói trong vài dòng. Chúng ta có thể ghi ngày rửa tội lên một trang giấy. Chúng ta không thể ghi hết những đêm một con người tự hỏi mình phải sống cho ai, phải đặt niềm cậy trông vào đâu.
Một nét đẹp của thầy là thầy đã tìm kiếm mà không phải coi thường nơi mình từng đi qua. Người đi vào đức tin với thái độ ấy có thể dạy chúng ta nhiều điều. Loan báo Tin Mừng không đòi ta khinh rẻ thao thức chân thành của người khác. Chính một người biết thao thức mới có thể hiểu rằng trong lòng người đối diện cũng có những câu hỏi rất sâu, dù họ gọi tên câu hỏi ấy bằng ngôn ngữ khác mình. Chuyện đời thầy mời người Công giáo Việt Nam suy nghĩ về cách mình làm chứng: trước khi muốn người khác hiểu giáo lý, ta có thể sống thế nào để họ cảm nhận được sự tận tâm? Trước khi đưa ra một câu trả lời, ta có thể đủ kiên nhẫn để nghe câu hỏi thật của họ? Những nhà giáo ở trường Thiên Hựu, theo bài nghiên cứu về thầy, đã để lại dấu ấn nơi cậu học trò bằng sự gần gũi và tận tình. Tôi nghĩ đó là một lời nhắc nghiêm khắc cho người làm mục vụ. Có khi một lớp học được dạy bằng cả tấm lòng đã mở cửa cho Tin Mừng sâu hơn nhiều lời biện luận sắc bén.
Tên thánh Stêphanô cũng gợi cho tôi một suy nghĩ. Thánh Stêphanô trong sách Công vụ là người làm chứng bằng lời nói và bằng chính mạng sống mình; lúc chịu bách hại, ngài hướng lòng về Đức Kitô. Tôi không muốn gán cho thầy Nguyễn Khắc Dương một câu chuyện tử đạo mà thầy không có. Nhưng tên thánh ấy như một lời nhắc âm thầm suốt cuộc đời: người tin Chúa được mời gọi làm chứng cho điều mình đã nhận ra là chân thật. Chứng tá của thầy không diễn ra trong một khoảnh khắc kịch tính. Nó trải ra qua việc học, việc dạy, qua những đổi thay không dễ chịu, qua việc tiếp tục trung thành với câu hỏi về Thiên Chúa và con người khi tuổi đã cao. Một cuộc tử đạo đổ máu gây chấn động trong một ngày; sự bền bỉ làm chứng bằng trí tuệ, lương tâm và đời sống cần đến nhiều thập niên. Hai điều không giống nhau, nhưng đều hỏi con người có dám đặt sự thật cao hơn sự dễ dãi của mình hay không.
Tôi xúc động trước những lần thầy bước vào rồi lại phải bước ra khỏi một hình thức đời tu. Thầy từng tu học với Dòng Phanxicô, sang Pháp học tập; có thời gian tìm đến đời sống Cát Minh và Biển Đức. Bản tiểu sử ghi những khó khăn về sức khỏe trong các ngã rẽ ấy. Ta thường kể chuyện ơn gọi theo một đường thẳng: nghe Chúa gọi, vào dòng, đi tới cùng trong đúng khung hình ban đầu. Cuộc đời thực của thầy không nằm gọn trong đường thẳng đó. Nếu chỉ nhìn bằng tiêu chuẩn “ở lại được hay không”, người ta dễ đọc sai câu chuyện ấy. Một cánh cửa tu trì khép lại không nhất thiết là Thiên Chúa khép lại lời mời gọi nên thánh. Có người không thể ở trong nếp sống mình tha thiết muốn, nhưng vẫn có thể sống trọn một đời quy hướng về Chúa giữa lớp học, giữa sách vở, giữa một cộng đoàn đón nhận mình khi đã già. Điều này không làm nhẹ đi nỗi đau của những lần phải rời đi. Nó chỉ giúp chúng ta dè dặt hơn trước khi phán xét cuộc đời của một người bằng một giai đoạn đơn lẻ.
Ở Paris, thầy học triết tại Sorbonne và hoàn tất bậc cử nhân trong giai đoạn 1957–1960. Nhưng khi tự kể về quãng ấy, thầy không dựng cho mình chân dung một trí thức rực rỡ. Thầy nói đến chuyện trang trải sinh hoạt bằng trợ giúp, học bổng và cả việc dạy phụ đạo; nói đến một đời sống tuy vất vả nhưng có thể xoay xở; rồi xét lại chính mình, tự hỏi liệu mình đã hết lòng với việc học như bổn phận được giao hay chưa. Một người đủ tuổi để nhìn lui nhiều chục năm mà còn dám nói đến sự “nửa vời” của bản thân là người chưa để danh tiếng làm câm lương tâm. Tôi quý thầy ở nét ấy. Rất dễ thành thật về một sai lầm khi nó làm hình ảnh mình đẹp hơn; khó hơn nhiều là thành thật về những giới hạn tầm thường, những điều đã qua mà chẳng ai còn buộc mình phải khai ra. Một người thầy lớn không chỉ dạy bằng những điều mình biết. Thầy còn dạy bằng cách mình tự xét mình. Đại Hội Thụ Nhân Thế Giới
Sau những năm ở Pháp, thầy trở về Việt Nam. Từ năm 1966 đến năm 1975, thầy giảng dạy tại Viện Đại học Đà Lạt, đảm nhiệm trách nhiệm ở ban triết học và khoa văn, đồng thời có những hoạt động thỉnh giảng. Những dòng tiểu sử ấy có thể đọc lướt qua rất nhanh. Nhưng người đã từng đứng lớp sẽ hiểu: thời gian của một nhà giáo không chỉ được đo bằng niên khóa. Nó ở lại trong cách một học trò học nhìn vấn đề, trong thói quen không chấp nhận một câu trả lời cẩu thả, trong lòng can đảm đi tiếp với một câu hỏi khó. Người dạy triết có thể trao cho sinh viên hệ thống thuật ngữ; người thầy đúng nghĩa còn giúp họ nhận ra rằng suy nghĩ là một trách nhiệm đạo đức. Không phải ý tưởng nào cũng vô can. Một ý tưởng về con người sẽ ảnh hưởng đến cách ta đối xử với con người. Một ý tưởng về tự do sẽ đi vào cách ta dùng tự do. Một ý tưởng về Thiên Chúa sẽ đi vào cách ta cầu nguyện, và có khi cả cách ta làm tổn thương người khác nhân danh Ngài. Tôi không từng ngồi trong lớp của thầy, nên không dám kể như một ký ức riêng điều thầy đã nói với học trò. Nhưng nhìn hành trình học hỏi và giảng dạy của thầy, tôi có thể nói điều cuộc đời ấy đánh thức nơi mình: đức tin rất cần những con người chịu khó suy nghĩ đến nơi đến chốn.
Năm 1975 mở ra một giai đoạn nhiều biến động trong đời thầy, cũng như trong đời biết bao người Việt Nam. Những bản ghi chép tiểu sử nói đến việc thầy phải rời môi trường đại học cũ, trải qua thời gian ở trại Sông Mao, rồi sống và làm việc trong những hoàn cảnh khác nhau tại Đà Lạt, Lâm Đồng. Đây là những chi tiết cần được kể với sự cẩn trọng: một vài dòng mốc năm không thể thay cho toàn bộ kinh nghiệm nội tâm của người đã sống qua chúng. Tôi không biết trong từng đêm của giai đoạn đó thầy cầu nguyện ra sao, buồn ra sao, đã phải học cách bắt đầu lại thế nào. Tôi chỉ thấy trước một câu hỏi rất thật: khi bục giảng không còn như cũ, khi vị trí xã hội đổi khác, con người có còn biết mình là ai không? Có lẽ đời thầy nhắc chúng ta rằng một nhà giáo không hết là nhà giáo khi mất lớp học quen thuộc; một người đi tìm chân lý không hết tìm khi các điều kiện thuận lợi bị lấy đi.
Tôi nghĩ nhiều đến chữ thầy mà mọi người dành cho Nguyễn Khắc Dương. Danh xưng ấy giản dị, nhưng sâu. Nó không chỉ ghi một nghề nghiệp đã làm. Có những người nghỉ dạy rồi từ lâu vẫn được gọi là thầy, vì nơi họ người khác còn tìm được một thái độ sống đáng học. Thầy không phải là người nắm sẵn mọi đáp án. Đôi khi thầy là người làm cho ta bớt sợ những câu hỏi căn bản. Thầy có thể dạy ta đọc một văn bản, nhưng cũng dạy ta đọc đời mình. Có thể một bài giảng đã phai khỏi trí nhớ học trò, nhưng hình ảnh một người già vẫn đọc, vẫn hỏi, vẫn xét lại mình thì ở lại. Trong một thời đại ai cũng có thể phát biểu tức thì về mọi chuyện, hình ảnh một người dành cả đời học cách hiểu con người, hiểu đức tin, hiểu chính mình thật đáng để ta đứng chậm lại.
Sau này, thầy tiếp tục dạy triết học và tâm lý học cho các nhóm chủng sinh, tu sinh, sống tại những cộng đoàn khác nhau và có những năm tháng ở Huế. Tư liệu của Tu đoàn Anh Em Bác Ái Chúa Kitô Tôi Tớ cho biết những bài giảng thầy thực hiện tại Trường Viết văn Nguyễn Du năm 1988 được tìm lại và biên soạn thành sách Để hiểu đạo Chúa hơn nhân dịp mừng thầy trăm tuổi. Chỉ riêng câu chuyện một tập bài giảng tưởng đã thất lạc, rồi nhiều năm sau lại trở về với người đọc, đã khiến tôi cảm động. Người gieo hạt không kiểm soát được ngày hạt mọc. Có những điều một thầy giáo nói khi tóc còn đen, tới lúc tóc đã bạc trắng mới tìm được đường vào tay người cần đọc. Đời sống trí tuệ cũng có mùa chờ đợi của nó. Nếu một lời chân thành chưa được lắng nghe ngay, lời ấy chưa chắc đã mất.
Nhan đề Để hiểu đạo Chúa hơn cũng đẹp vì chữ “hơn”. Nó không tuyên bố rằng mình đã hiểu hết. Nó mở ra một bước nhỏ nữa trong cuộc gặp gỡ với mầu nhiệm. Người mới biết đạo cần hiểu hơn; người dạy đạo nhiều năm cũng cần hiểu hơn; linh mục giảng mỗi ngày cũng cần hiểu hơn. Hiểu hơn không chỉ là thu thêm dữ kiện. Có người thuộc rất nhiều điều về Thiên Chúa mà lại khó nhận ra Chúa đang hỏi mình phải thương người trước mặt ra sao. Có người chưa học nhiều nhưng biết quỳ xuống bên người đau yếu và ở lại. Đức tin trưởng thành cần cả sự sáng của trí tuệ lẫn sức nặng của tình yêu. Khi nhìn thầy, tôi thấy một lời nhắc để người giảng dạy trong Hội Thánh không tách hai điều ấy ra: hãy học cho nghiêm túc, rồi hãy để điều mình học chạm vào cách mình sống.
Một bài nghiên cứu công bố năm 2023 đọc hồi ký của thầy qua nét chủ đạo là nỗi khát khao tìm ý nghĩa sống và ơn cứu độ nơi Đức Giêsu Kitô. Tôi đón nhận cách đọc ấy như một gợi ý quý, đồng thời muốn giữ lại sự phong phú không dễ giản lược của một con người. Khao khát không chỉ là một chủ đề đẹp cho bài viết tưởng niệm. Nó có lúc là nỗi bất an khiến người ta không ngủ yên; có lúc là sự không thỏa mãn với câu trả lời của chính mình; có lúc là cảm giác đã đi rất xa mà vẫn chưa đến. Nếu chỉ ca ngợi điểm đến, ta sẽ vô tình xóa đi sự nhọc nhằn của con đường. Tôi tin Chúa không khinh sự nhọc nhằn ấy. Tin Mừng không bảo người khát phải giả vờ mình đã no. Đức Kitô nói với người đang khát. Một đời thầy thao thức vì thế có thể trở thành sự an ủi cho bao người hôm nay đang tự hỏi vì sao mình tin Chúa mà lòng vẫn còn nhiều câu hỏi.
Chúng ta thường sốt ruột với người đặt câu hỏi trong Hội Thánh. Ta sợ câu hỏi làm lung lay điều mình yêu. Nhưng có thứ câu hỏi phát xuất từ ý muốn phá bỏ, và cũng có thứ câu hỏi phát xuất từ lòng yêu sự thật đến mức không thể sống bằng một công thức mình chưa hiểu. Trước câu hỏi thứ hai, Hội Thánh không cần hoảng sợ. Chính Hội Thánh cũng là nơi con người có thể đem trí khôn, lịch sử, thương tích và khát vọng của mình đến trước Chúa. Thầy Nguyễn Khắc Dương không cho ta một giấy phép để nghi ngờ mọi sự cho thỏa thích; cuộc đời thầy gợi một kỷ luật khó hơn: hỏi thật, học thật, sống thật, và đừng bỏ cuộc chỉ vì câu trả lời cần cả một đời người. Với người trẻ đang tưởng đức tin chỉ dành cho ai không suy nghĩ, thầy là một phản chứng. Với người có đạo lâu năm nhưng đã ngừng tìm hiểu, thầy là một câu hỏi đánh thức.
Có một điều khác khiến tôi kính trọng: thầy đã không đóng khung đời mình trong một danh tính duy nhất. Người ta có thể gọi thầy là người con của một gia đình Nho học, người tân tòng, người từng sống đời Phanxicô, người học triết ở Sorbonne, nhà giáo của Đại học Đà Lạt, người dạy các thế hệ tu sinh, tác giả hồi ký, người cao niên được chăm sóc trong một tu đoàn. Mỗi tên gọi đúng một phần, nhưng không tên nào sở hữu trọn con người thầy. Chúng ta cần nhớ điều đó khi viết về người vừa qua đời. Một bài tưởng niệm dễ vô tình dùng người đã khuất để minh họa cho chủ đề mình thích, rồi bỏ rơi những nét không khớp. Tôi không muốn làm thế với thầy. Tôi muốn giữ nguyên trước mặt mình một con người đã đi qua nhiều môi trường, nhiều tìm kiếm, nhiều giới hạn thân xác, nhiều khúc quanh lịch sử.
Chính cuộc đời ấy, chứ không phải một chân dung được làm nhẵn cho dễ ngắm, mới đáng biết ơn.
Những năm cuối đời, thầy được gắn bó và chăm sóc tại Tu đoàn Anh Em Bác Ái Chúa Kitô Tôi Tớ thuộc Giáo phận Phan Thiết. Tôi thấy ở đây một nét Tin Mừng rất hiền. Người từng dạy nhiều người, đến cuối đời cũng cần được người khác nâng đỡ. Người từng giúp khai mở những ý tưởng lớn, đến cuối đời cũng phải sống những nhu cầu rất nhỏ của thân xác già nua. Đó không phải sự sa sút làm mất phẩm giá; đó là thân phận con người được đặt vào tay nhau. Tu đoàn diễn tả sứ vụ của mình qua việc phục vụ người nghèo, người neo đơn và phụng dưỡng người cao niên. Đọc lại điều ấy bên cạnh câu chuyện đời thầy, tôi nghĩ tới một bài học không có trong giáo trình triết học: một cộng đoàn cho thấy mình hiểu phẩm giá con người đến đâu qua cách chăm sóc người không còn tự mình làm được mọi việc.
Chúng ta yêu quý một trí tuệ minh mẫn, một bài nói chuyện cuốn hút, một con người có thể trả lời những câu hỏi của mình. Nhưng khi người ấy yếu đi, nghe kém đi, nói chậm đi, phải nhờ người khác trong việc thường ngày, ta còn biết nhìn họ bằng cùng một sự kính trọng không? Một trăm năm tuổi đời đặt câu hỏi ấy cho mọi gia đình và mọi cộng đoàn. Nếu chỉ biết tôn vinh thầy trên sân khấu kỷ niệm mà không biết ngồi lâu bên thầy khi buổi lễ đã xong, ta mới yêu một phần đời thầy thôi. Tôi không kể điều này như nhận xét về những người đã chăm sóc thầy; trái lại, từ việc thầy có một nơi nương tựa, tôi nhận được lời chất vấn cho chính mình. Đức tin vào sự sống đời đời phải đi cùng sự dịu dàng rất cụ thể với người già đang sống hôm nay.
Tôi nhớ đến ngày 24 tháng 9 vừa qua. Đó là sinh nhật thứ một trăm lẻ một của thầy. Chỉ bốn ngày sau, thầy qua đời. Khoảng cách bốn ngày thật ngắn nếu đặt cạnh hơn một thế kỷ, nhưng đủ khiến lòng người chùng xuống. Ta thường mừng một ngày sinh nhật như thể vừa được trao thêm một năm; thật ra, mỗi ngày là một món quà ta chỉ giữ được bằng đôi tay mở. Không ai biết mình còn bốn ngày, bốn tháng hay bốn mươi năm. Người sống lâu hơn một thế kỷ cũng không miễn cho chúng ta đối diện với sự hữu hạn; có khi chính sự sống lâu ấy khiến lời nhắc càng rõ hơn. Một đời người, dù dài đến đâu, vẫn không thể tự mình thành vĩnh cửu. Ta cần được đón nhận. Ta cần một tình yêu lớn hơn trí nhớ của người đời, lớn hơn mọi công trình ta để lại.
Bởi vậy, khi nói thầy “về Nhà Chúa”, tôi muốn nói với tất cả lòng tin và cả sự khiêm tốn của đức tin. Chúng ta không đứng ở cửa đời sau để chứng nhận điều mắt mình chưa thấy. Chúng ta phó thác thầy cho lòng thương xót của Thiên Chúa và cầu nguyện cho thầy. Đó là cách Hội Thánh yêu người đã khuất: tạ ơn vì những ơn lành Chúa đã thực hiện nơi họ, đồng thời không ngừng xin Chúa thanh luyện và đón nhận họ. Đừng vì quý mến thầy mà quên cầu nguyện cho thầy. Một bài ca ngợi dù đẹp đến đâu cũng không thay được một Thánh lễ, một lời kinh, một nghĩa cử bác ái dâng để cầu cho người mình thương. Càng kính trọng thầy, tôi càng muốn thưa với Chúa bằng tên thầy: xin Chúa thương linh hồn Stêphanô.
Tôi nghĩ đến những người đã gặp thầy ở những thời điểm rất khác nhau. Có người nhớ một giáo sư đứng lớp tại Đà Lạt. Có người nhớ những giờ học triết ở chủng viện. Có người biết thầy qua một cuốn hồi ký. Có người chỉ vừa biết tên thầy khi đọc tin thầy qua đời. Mỗi người giữ một mảnh ký ức; không ai một mình giữ hết. Một cuộc đời dài như thế không thuộc độc quyền của một nhóm học trò, một cơ sở giáo dục, một cộng đoàn tu trì hay một thế hệ. Thầy đã đi qua nhiều căn nhà và để lại những câu hỏi ở nhiều nơi. Có lẽ một cách đẹp để biết ơn thầy là cùng nhau gìn giữ những bài viết, những bài giảng, những chứng từ đã được kiểm chứng; để người đến sau có thể tự đọc, tự suy nghĩ và gặp con người thực của thầy, thay vì chỉ nhận một vài lời ca tụng ngắn ngủi sau ngày thầy mất.
Với những người làm giáo dục Công giáo, cuộc đời thầy gửi một lời nhắn: hãy coi trọng chiều sâu. Một người trẻ có thể quên rất nhanh bài học được đọc cho chép, nhưng khó quên người thầy đã nghiêm túc với câu hỏi của mình. Đừng sợ học trò hỏi khác mình. Đừng dùng uy quyền để lấp chỗ mà mình chưa kịp tìm hiểu. Hãy cho họ thấy người có đức tin vẫn đọc nhiều, nghĩ sâu, sửa ý kiến khi cần, và biết cúi đầu trước mầu nhiệm. Thầy Nguyễn Khắc Dương đã đi qua một hành trình mà trí thức không dập tắt lòng tin và lòng tin không đòi trí thức phải ngủ yên. Chỉ riêng điều đó đã là một di sản đáng nâng niu.
Với những ai đang phân định ơn gọi, đời thầy cũng nói một lời rất nhân hậu. Có khi chúng ta muốn dâng đời mình cho Chúa trong một hình thức rõ ràng, nhưng thân thể, hoàn cảnh hoặc những giới hạn có thật khiến con đường ấy không đi tiếp như dự định. Nỗi buồn ấy cần được tôn trọng; không ai nên vội xoa dịu nó bằng câu “Chúa có cách khác” khi người trong cuộc còn đang đau. Nhưng sau nỗi đau, vẫn có thể mở ra một cách hiến dâng khác. Một người có thể không trở thành tu sĩ như mình từng mong, mà vẫn sống như người được Chúa sai vào một lớp học, một thư viện, một cuộc đối thoại, một cộng đoàn. Thiên Chúa không hết đường dẫn một con người chỉ vì con đường đầu tiên họ yêu quý đã khép lại. Tôi không biết thầy đã tự diễn tả mọi khúc quanh của mình như thế nào ở từng thời điểm; đây là điều tôi suy niệm khi nhìn toàn bộ hành trình ấy.
Với người đã lớn tuổi, thầy khơi lên một lời mời gọi khác: đừng tưởng tuổi già chỉ còn là đoạn kết thụ động. Một cuốn sách xuất bản khi người được mừng đã trăm tuổi, những bài giảng cũ được tìm lại, những cuộc thăm viếng và lời cầu nguyện quanh một người đã sống quá một thế kỷ: tất cả cho thấy một đời người vẫn có thể trao tặng ý nghĩa sau khi sức làm việc đã khác xưa. Giá trị của người cao tuổi không nằm ở việc họ còn sản xuất được bao nhiêu. Chính sự hiện diện của họ, ký ức của họ, đôi lúc cả sự yếu đuối họ tin tưởng trao cho người khác chăm sóc, có thể dạy một cộng đoàn biết yêu. Nói thế không phải để biến sự đau yếu thành một bài học đẹp cho người đứng ngoài. Đau yếu vẫn là đau yếu. Nhưng con người vẫn đáng được yêu trọn vẹn trong tình trạng ấy.
Với chính tôi, một linh mục, sự ra đi của thầy là dịp xét lại cách mình dùng lời nói. Tôi có thể giảng rất nhiều về chân lý, nhưng có đủ kiên nhẫn đi tìm chân lý khi nó buộc tôi sửa một nhận định đã quen? Tôi có thể mời người khác tín thác, nhưng có biết phó thác khi kế hoạch mình yêu quý không thành? Tôi có thể nói về phẩm giá người già, nhưng có dành thời gian cho một người già không còn kể chuyện mạch lạc? Tôi có thể ca ngợi những người thầy lớn, nhưng có thực lòng học nơi họ tính trung thực với chính mình? Nếu bài tưởng niệm này chỉ khiến người đọc xúc động trong vài phút rồi khép lại, nó còn thiếu điều thầy có thể mong nơi một người học trò của cuộc đời: đem một câu hỏi tử tế về nhà và sống khác đi một chút.
Hôm nay, giữa rất nhiều dòng tin chạy qua màn hình, tin thầy Nguyễn Khắc Dương qua đời có thể bị đẩy xuống chỉ sau vài giờ. Nhưng một con người không biến mất nhanh như một dòng tin. Những người đã được thầy dạy vẫn mang theo phần nào giọng nói, lối suy nghĩ, sự nghiêm cẩn của thầy. Những trang viết vẫn chờ người đọc. Những ngã rẽ của thầy vẫn giúp ai đó bớt cô độc trên con đường của mình. Và trên hết, đối với người tin Chúa, một con người không bị rút gọn vào hồ sơ lưu trữ của thế gian. Mỗi người được biết đến bằng tên mình trước mặt Thiên Chúa. Thầy đã mang một cái tên do gia đình trao: Nguyễn Khắc Dương. Thầy đã nhận một tên thánh ở giếng rửa tội: Stêphanô. Đến giờ phút cuối, cả cuộc đời với những điều chúng ta biết và vô vàn điều chỉ Chúa biết được đặt trong lòng thương xót của Ngài.
Tôi muốn kết thúc bằng cách quay lại hình ảnh người đi tìm. Khi còn trẻ, thầy đi qua những nếp sống và nền tư tưởng khác nhau để hỏi đâu là điều đáng trao cả đời mình. Khi trưởng thành, thầy học và dạy, tiếp tục tìm một ngôn ngữ để nói về con người và Thiên Chúa. Khi già đi, thầy phải để người khác chăm sóc mình, như mọi người chúng ta rồi cũng sẽ phải học bài học nhận lãnh. Đó là một con đường dài, nhưng không phải chỉ là câu chuyện một cá nhân phi thường. Nó soi vào cuộc đời rất bình thường của chúng ta: có ai trong chúng ta chưa từng tìm một nơi thuộc về? Có ai chưa từng thấy mình hiểu được chút ít rồi lại nhận ra còn biết quá ít? Có ai không ước, sau mọi sai lầm và dang dở, mình vẫn được đón về?
Thầy Stêphanô kính mến, chúng con không thể kể hết một trăm lẻ một năm đời thầy bằng một bài viết. Chúng con cũng không muốn khép thầy lại trong một bức chân dung chỉ toàn những nét đẹp dễ nói. Chúng con tạ ơn Chúa vì hành trình thật của thầy: vì cậu học trò biết chú ý đến lòng tận tụy của các nhà giáo; vì người thanh niên đã nghiêm túc tìm một lẽ sống; vì người tân tòng đã chọn bước theo Đức Kitô; vì người đi tìm một nếp tu đã không ngừng đi tìm khi con đường đổi hướng; vì người thầy đã đứng lớp, đã viết, đã dạy, đã tự xét mình; vì người già đã để một cộng đoàn yêu thương và chăm sóc. Chúng con tạ ơn cả vì những phần đời không thể đưa lên một tấm ảnh tưởng niệm, nhưng chắc chắn không bị Chúa quên.
Lạy Chúa Giêsu Kitô, Chúa biết thầy Stêphanô sâu hơn mọi người từng gặp thầy. Chúa biết khát vọng đã đưa thầy lên đường, biết những giờ học và những giờ cầu nguyện, biết niềm vui khi được giảng dạy, biết nỗi buồn trong những lần phải rời một nơi mình yêu, biết sự mỏi mệt của tuổi già và giây phút cuối cùng của đời thầy. Xin lấy lòng thương xót đón nhận người tôi tớ Chúa. Xin tha thứ mọi thiếu sót mà chỉ Chúa thấu suốt. Xin cho những hạt giống tốt thầy đã gieo tiếp tục nảy mầm trong lòng người còn sống. Xin an ủi gia đình, học trò, bạn hữu và cộng đoàn đã đồng hành với thầy. Và xin dạy chúng con, khi nhắc tên thầy, không chỉ nhớ một đời người đáng kính, mà còn nhớ điều mọi cuộc tìm kiếm chân thành đều hướng tới: được gặp Chúa, được ở lại trong tình yêu Chúa, được nghỉ yên nơi Chúa.
Lạy Chúa, xin cho linh hồn Stêphanô được nghỉ yên muôn đời, và xin ánh sáng ngàn thu chiếu soi trên linh hồn thầy. Amen.
Lm. Anmai, CSsR.

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét