Hiển thị các bài đăng có nhãn Đối thoại liên tôn. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Đối thoại liên tôn. Hiển thị tất cả bài đăng

Chủ Nhật, 3 tháng 11, 2019

Hội ngộ Liên tôn lần thứ IX tại TTMV TGP Sài Gòn.




WGPSG – “Nối nhịp Văn hóa và Tôn giáo” là chủ đề buổi Hội ngộ Liên tôn lần thứ IX diễn ra lúc 15g Chúa nhật, 27.10.2019 tại Trung tâm Mục vụ (TTMV) Tổng Giáo phận Sài Gòn (TGP Sài Gòn), TP Hồ Chí Minh (TP.HCM).

Thứ Hai, 22 tháng 1, 2018

Lịch Sử Tuần Cầu Nguyện Cho Sự Hiệp Nhất Kitô Giáo.

Năm 1908, Mục Sư Paul Wattson đang coi sóc một nhà thờ Anh giáo ở Graymoor, New York, đưa ra sáng kiến cử hành một tuần Tám Ngày cầu nguyện cho sự hiệp nhất Kitô Giáo với sự hỗ trợ của các giám mục Anh giáo và Công Giáo, trong đó có Đức Hồng Y William O'Connell của Boston. Tuần Tám Ngày này bắt đầu vào ngày 18 tháng Giêng, lúc bấy giờ là Lễ Ngai Tòa Thánh Phêrô ở Rôma, và kết thúc vào ngày 25 tháng Giêng, Lễ Thánh Phaolô Trở Lại.

Thứ Ba, 9 tháng 5, 2017

TGP Sài Gòn chúc mừng lễ Phật Đản-2017



Trong giây phút hàn huyên, ĐGM Giuse và Hòa thượng Thích Trí Quảng đã trao đổi cho nhau về những kinh nghiệm, sự thuận lợi và khó khăn khi chuẩn bị trùng Nhà thờ Chính tòa Sài Gòn cũng như quá trình xây dựng Việt Nam Quốc Tự.

Thứ Bảy, 30 tháng 7, 2016

Câu chuyện cuối tuần: Công Giáo và Tin Lành


 Kết quả hình ảnh cho cha pio ngô phúc hậu

Mình leo lên xe. Băng hai còn trống. Mình ngồi cô đơn. Xe sắp sửa lăn bánh, thì một chàng thanh niên phóng lên. Dòm mình một cái rồi nhẹ nhàng ghé mông vào đầu băng, cốtình để một khoảng cách giữa hai người.

Vài phút sau anh chàng lại dòm mình một cái, dòm ngay trân cái cổ côn trắng của mình,rồi hỏi nhỏ nhẹ:

Thứ Bảy, 21 tháng 5, 2016

Đức Tổng Giám mục Phaolô Bùi Văn Đọc chúc mừng Lễ Phật Đản



WGPSG -- “Mong rằng chúng ta luôn hợp tác với nhau để giải thoát con người khỏi những đau khổ do tình trạng biến đổi khí hậu gây nên, và góp phần vào việc chăm sóc ngôi nhà chung của chúng ta”. Đó là lời chia sẻ của Đức Tổng Giám mục Phaolô Bùi Văn Đọc (Đức TGM), khi ngài đến Việt Nam Quốc Tự để chúc mừng Đại lễ Phật Đản (PL.2560 - DL.2016) quý chư tôn đức giáo phẩm, Tăng Ni, Phật tử, vào lúc 15g15 ngày 19.5.2016.

Thứ Sáu, 8 tháng 1, 2016

Hạt sạn quá lớn của mục vụ đối thoại liên tôn.

Hẳn nhiên không cần phải nhiều lời, ai ai cũng cần có đối thoại, chia sẻ, hiệp nhất và yêu thương. Ai ai cũng mong mọi tôn giáo có thể đến với nhau, xích lại gần nhau. Thế nhưng, có khi cũng xem lại cung cách đối thoại, đặc biệt là liên tôn, là hội nhập văn hóa …
Về vấn đề hội nhập văn hóa và về ước muốn liên tôn, Giáo Hội Công Giáo là Giáo Hội phổ quát và tông truyền. Tôi ít học cũng như hiểu không sâu nhưng mãi mãi vẫn là một Giáo Hội tông truyền nghĩa là Giáo Hội được xây dựng trên nền tảng là các vị tông đồ và truyền lại cho mọi người.

Thứ Ba, 10 tháng 11, 2015

Sáng kiến trong công cuộc truyền giáo.

Họ Cái Răng: Lương giáo chung lòng hiếu thảo
Ngày lễ Các Đẳng năm nay thật tốt đẹp, diễn tiến theo chương trình Thắp Nhang Hiếu Thảo của Ban Truyền Giáo đề xuất.
Thánh lễ vào lúc 5g30 chiều. Bà con giáo dân đón tiếp anh chị em lương dân tụ họp trước sân nhà thờ và sau đó đưa các di ảnh vào nhà thờ. Số giáo dân khoảng 130 người và số các anh chị em lương dân là 120 người.
Nghi thức đầu lễ bằng việc rước vào nhà thờ, mỗi người một cây nhang. Sau đó là nghi thức Thắp Nhang Hiếu Thảo: Tri ân tiên nhân; Tạ lỗi tiên nhân; cầu nguyện cho tiên nhân.
Sau đó Thánh lễ tiếp tục trong bầu khí rất trang nghiêm và linh thiêng, vì đa số các anh chị em lương dân đã quen tham dự mấy lần rồi.

Thứ Ba, 13 tháng 1, 2015

Tuần lễ cầu cho sự hiệp nhất các Kitô giáo.

Năm nay (2015), ngày khởi đầu “tuần lễ cầu cho sự hiệp nhất Kitô giáo” là Chúa Nhật II Thường Niên (năm B), và đặc biệt là dịp chúng ta cùng với hàng triệu Kitô hữu trên thế giới vui mừng kỷ niệm lần thứ 100 của Tuần Hiệp Nhất.

Ước muốn hiệp nhất Kitô giáo là sự thật về phong trào đại kết, sự hiệp nhất bắt nguồn từ Đức Kitô. Ngài đã bày tỏ rõ ràng trong lời cầu nguyện tại Bữa Tiệc Ly, trước khi Ngài chịu khổ nạn: “Lạy Cha, Con không chỉ cầu nguyện cho những người này, nhưng còn cho những ai nhờ lời họ mà tin vào con, để tất cả nên một, như Cha ở trong con và con ở trong Cha để họ cũng ở trong chúng ta. Như vậy, thế gian sẽ tin rằng Cha đã sai con” (Ga 17:20-21).

Cầu nguyện là điều cần thiết trước khi làm bất cứ việc gì, như tác giả Thánh Vịnh xác định: “Ví như Chúa chẳng xây nhà, thợ nề vất vả cũng là uổng công. Thành kia mà Chúa không phòng giữ, uổng công người trấn thủ canh đêm. Bạn có thức khuya hay dậy sớm, khó nhọc làm ăn cũng hoài công. Còn kẻ được Chúa thương dầu có ngủ, Người vẫn ban cho đủ tiêu dùng” (Tv 127:1-2). Việc xây “Nhà Hiệp Nhất Kitô Giáo” là việc chung, nhưng nếu không được Chúa Giêsu giúp đỡ thì cũng luống công vô ích. Thật vậy, chính Ngài đã nói: “Không có Thầy, anh em chẳng làm gì được” (Ga 15:5).

Tuần lễ cầu cho sự hiệp nhất Kitô giáo hàng năm từ ngày 18 tới 25 thánh Một, do các Tu sĩ Dòng Phanxicô Hoa Kỳ khởi xướng, họ thuộc Tân giáo (Episcopalian Communion) hoặc Anh giáo (Anglican Communion). Họ là Lm Paul Wattson và Nt Lurana White, Dòng Phanxicô Đền Tội (Franciscan Friars and Sisters of the Atonement). Nhóm này mau chóng trở thành Công Giáo Rôma.

Thánh 1-1908, tuần lễ cầu cho sự hiệp nhất Kitô giáo được cử hành tại nhà nguyện của nữ tu viện Phanxicô Tân giáo, trên ngọn đồi cách TP New York 50 dặm về phía Bắc. Lm Wattson và các tu sĩ nam nữ Phanxicô cảm thấy rằng Anh giáo nên phục hồi tính Công Giáo bằng cách tìm kiếm một dạng “hiệp nhất” nào đó với Đức Giáo Hoàng ở Rôma. Các tu sĩ này thấy có sự đáp lại từ phía Rôma bằng cách hiệp thông hoàn toàn từ năm 1909.

Từ đầu, ngày 18 được chọn là ngày mở đầu Tuần Hiệp Nhất vì hồi đó ngày này là lễ Tông Tòa Thánh Phêrô tại Rôma. Thập niên 1930, Lm Paul Couturier, người Pháp, cổ vũ sự hiệp nhất Kitô giáo nên khuyên cầu nguyện cho sự hiệp nhất Kitô giáo như Chúa Giêsu mong muốn.

Năm 1964, Công đồng Vatican II đã ban hành sắc lệnh về đại kết, khuyến khích người Công Giáo “cầu nguyện cùng với các anh em ly khai” và nhận biết các cộng đồng Kitô giáo khác. Năm 1968, Tuần Hiệp Nhất chính thức được gọi là “Tuần lễ Cầu nguyện cho sự Hiệp nhất Kitô giáo”. Tuần lễ này là “tám ngày suy nghĩ về sự thay đổi của chúng ta trong Đức Giêsu Kitô”.

Ngày thứ nhất: Thay đổi nhờ Người Tôi Trung là Đức Kitô.
Ngày thứ nhì: Thay đổi trong sự kiên nhẫn chờ đợi Chúa Giêsu.
Ngày thứ ba: Thay đổi nhờ Người Tôi Tớ Đau Khổ.
Ngày thứ tư: Thay đổi nhờ Đức Kitô chiến thắng ma quỷ.
Ngày thứ năm: Thay đổi nhờ ơn bình an của Chúa Giêsu phục sinh.
Ngày thứ sáu: Thay đổi nhờ tình yêu của Thiên Chúa.
Ngày thứ bảy: Thay đổi nhờ Chúa Chiên Lành.
Ngày thứ tám: Kết hiệp trong quyền cai trị của Đức Giêsu Kitô.
Chúng ta cùng nhớ lại điều mong ước của Chúa Giêsu:

"Con đã truyền lại cho họ lời của Cha, và thế gian đã ghét họ, vì họ không thuộc về thế gian, cũng như con đây không thuộc về thế gian. Con không xin Cha cất họ khỏi thế gian, nhưng xin Cha gìn giữ họ khỏi ác thần. Họ không thuộc về thế gian cũng như con đây không thuộc về thế gian. Xin Cha lấy sự thật mà thánh hiến họ. Lời Cha là sự thật. Như Cha đã sai con đến thế gian, thì con cũng sai họ đến thế gian. Vì họ, con xin thánh hiến chính mình con, để nhờ sự thật, họ cũng được thánh hiến. Con không chỉ cầu nguyện cho những người này, nhưng còn cho những ai nhờ lời họ mà tin vào con, để tất cả nên một, như Cha ở trong con và con ở trong Cha để họ cũng ở trong chúng ta. Như vậy, thế gian sẽ tin rằng Cha đã sai con. Phần con, con đã ban cho họ vinh quang mà Cha đã ban cho con, để họ được nên một như chúng ta là một: Con ở trong họ và Cha ở trong con, để họ được hoàn toàn nên một; như vậy, thế gian sẽ nhận biết là chính Cha đã sai con và đã yêu thương họ như đã yêu thương con. Lạy Cha, con muốn rằng con ở đâu, thì những người Cha đã ban cho con cũng ở đó với con, để họ chiêm ngưỡng vinh quang của con, vinh quang mà Cha đã ban cho con, vì Cha đã yêu thương con trước khi thế gian được tạo thành. Lạy Cha là Đấng công chính, thế gian đã không biết Cha, nhưng con, con đã biết Cha, và những người này đã biết là chính Cha đã sai con. Con đã cho họ biết danh Cha, và sẽ còn cho họ biết nữa, để tình Cha đã yêu thương con, ở trong họ, và con cũng ở trong họ nữa” (Ga 17:14-26).
Trầm Thiên Thu.

Thứ Ba, 2 tháng 12, 2014

Tìm “An hòa” nơi núi rừng Cao nguyên.



WGPSG -- “Ước chi mỗi người chúng ta, luôn biết nhận ra Chúa hiện thân nơi tha nhân, để khi làm bất cứ việc gì cho người khác là chúng ta ý thức mình đang làm cho chính Chúa. Và khi ý thức là ta đang làm cho chính Chúa, thì ta mới làm hết mình và làm với trọn cả tình yêu thương”.
Với tâm tình trên, tôi thật hữu duyên khi được theo chân Hội Phật tử miếu bà quận 9, phối hợp với nhóm thiện nguyện “Bốn Phương”, do bà Cao Thị Oanh là trưởng nhóm, thuộc Câu lạc bộ Phanxicô Xaviê Biên Hòa đi ủy lạo và hành hương tại núi rừng Cao nguyên, từ ngày 25/11/2014 đến ngày 29-11-2014.
Mái ấm nuôi dạy cô nhi Minh Trần
Khởi hành từ quận 9 lúc 05g00 sáng ngày 25/11/2014. Đến 10g00 cùng ngày, đoàn đã ghé thăm Mái ấm nuôi dạy cô nhi Minh Trần, thuộc Trúc Lâm Tịnh Viện, ngụ tại tổ 1, xã Minh Long, tỉnh Bình Phước để trao 50 phần quà cho các em cô nhi và những người già neo đơn. Nơi đây, thầy Thích Hạnh Tuệ đang nuôi nấng trên 30 cháu mồ côi, bệnh tật và hơn 15 người già cơ nhỡ, neo đơn.
Thật hồn nhiên khi chơi đùa với gần 10 em nhỏ, cháu Lê Thị Mỹ Ly đang học lớp 8, bộc bạch: “Con lớn lên chỉ biết nơi này là nhà. Con không biết mẹ cha là ai nên nhiều lúc con rất buồn. Tuy nhiên, nhờ ơn thầy cô, con đã được nuôi dạy và ăn học, nên con rất thương các em cùng cảnh ngộ”.
Ngoài ra, hiện nay, còn trên 10 em đang được thầy gửi lên TPHCM để theo học tại các trường cao đẳng và đại học.
Sau bữa cơm chay, đoàn đã bịn rịn chia tay các cháu để đến xã Quảng Sơn, huyện Đắk G’long nằm ở phía Đông Nam của tỉnh Đắk Nông để nghỉ ngơi.
Tại xã Quảng Sơn huyện Đắk G’long
Sau một đêm nghỉ ngơi tại ngôi nhà nhỏ của thầy Quảng Không, nơi thầy đang chuẩn bị xây dựng ngôi chùa mới. Dù chật chội nhưng ấm tình người, khi thầy thức suốt đêm để chăm lo giấc ngủ cho mọi người, quét các con bọ từ ngoài bay vào... và rồi lúc 08g00 sáng hôm sau, ngày 26/11/2014, đoàn đã vội vã đến Ủy ban Nhân dân xã Quảng Sơn và tận tay trao 100 phần quà và một xe lăn cho bà con người dân tộc và các gia đình khó khăn.
Thay mặt bà con, chị Thái Thị Vy - Chủ tịch hội Chữ thập đỏ xã Quảng Sơn - khi biết trong đoàn có người Công giáo, chị đã cảm ơn sự độ lượng của quý thầy, quý ni cô, quý ân nhân không phân biệt tôn giáo, đã trao ban yêu thương cho những người đang gặp khó khăn với “cái tâm độ lượng, khoan dung”.
Cũng vậy, anh Lý Văn Ngân bày tỏ lòng cảm kích trước sự hảo tâm của mọi người, để anh có thể yên tâm nuôi con cái ăn học.
Trước khi rời xã Quảng Sơn, đoàn đã ghé trường THCS - PT Lê Duẩn để gửi hai thùng phấn cho nhà trường tùy nghi sử dụng.
Đến phường Khánh Xuân, Buôn Ma Thuột
Vội vã lên xe, đoàn đã di chuyển đến trụ sở Ủy ban phường Khánh Xuân, Buôn Ma Thuột lúc 14g30 chiều. Tại đây, đoàn đã trao tặng 130 phần quà cho các gia đình đang gặp khó khăn. Ông Nguyễn Tuấn Hiền - phó Chủ tịch UBMTTQ - đã bày tỏ lòng biết ơn với đoàn. Ông cho biết thêm: “Địa điểm của Ủy ban tuy không xa thành phố Buôn Ma Thuột, nhưng đi sâu vào trong buôn làng, bà con còn gặp nhiều khó khăn”.
Chị Hơ Bốc, dân tộc Ede tâm sự: “Người dân tộc chúng tôi luôn nhớ ơn những người giúp mình. Chúng tôi chỉ biết xin thần linh độ trì cho quý ngài thay cho tấm lòng biết ơn của chúng tôi mà thôi”.
Sau đó, đoàn đã đến tịnh thất Hương Thiền do ni cô Hạnh Dung chủ trì để ăn trưa, ăn tối và nghỉ qua đêm. Tại đây, đoàn đã được thưởng thức những món cơm chay thật ngon do các chị Phật tử đến nấu nướng.
Thăm trại Cô nhi Vinh Sơn 4, hạt Pleiku, Gp. Kontum
Sau thời gian nghỉ ngơi, đoàn đã rời thành phố Buôn Ba Thuột để đến trại cô nhi Vinh Sơn 4, thuộc huyện Kon Rẫy, tỉnh Kontum lúc 19g00 ngày 26/11/2014.
Ra đón đoàn, nữ tu Y-Văn đã tập họp gần 160 em và hát những bài ca chào mừng quý khách thật vui tươi, sinh động. Khi tận mắt thấy những ánh mắt ngây thơ, cuộc sống hồn nhiên nơi núi rừng heo hút, và vui cười tíu tít, vì chẳng mấy khi có người lạ đến chơi, nên nhiều nhà hảo tâm đã chạnh lòng gửi đến nữ tu Y-Liêng - Phụ trách trại cô nhi - những khoản tiền, hầu giúp phần nào chi phí cho các nữ tu.
Tâm sự với tôi, Yă (Soeur) Liêng cho biết: “Đầu tháng 11, vì thiến tiền học phí cho các em gần 48 triệu đồng, nên soeur và các em lớn đã vào rẫy đào củ mì non đem bán được gần 18 triệu đồng. Số tiền còn lại soeur đang tính tiếp”.
Sáng hôm sau, khi nhìn các em cầm những tô mì gói để ăn sáng trước khi đến trường, nhiều người đã không cầm được nước mắt. Anh Phước - trưởng đoàn - đã bày tỏ nỗi niềm: “Khi giúp các gia đình khó khăn, chúng ta đã xót xa cho số phận của họ, nhưng thấy hoàn cảnh các cháu nơi núi rừng heo hút này, tâm chúng ta sao tĩnh được, nếu ta không làm gì đó cho các cháu”.
Khởi hành từ quận 9 lúc 05g00 sáng ngày 25/11/2014. Lúc 10g00 cùng ngày, đoàn đã đến Mái ấm nuôi dạy cô nhi Minh Trần, thuộc Trúc Lâm Tịnh ViệnÔng Phước - Trưởng đoàn - ngỏ lời với ni cô phụ trách Mái ấmĐoàn đã trao 50 phần quà cho các em cô nhi và những người già neo đơn. Nơi đây, thầy Thích Hạnh Tuệ đang nuôi nấng trên 30 cháu mồ côi, bệnh tật và hơn 15 người già cơ nhỡ, neo đơn. Lúc 08g00 sáng hôm sau, ngày 26/11/2014, đoàn đã vội vã đến Ủy ban Nhân dân xã Quảng Sơn Chuẩn bị quà trao tặng bà conĐoàn đã tận tay trao 100 phần quà và một xe lăn cho bà con người dân tộc và các gia đình khó khăn.
Viếng Đức Mẹ Măng Đen, hạt Pleiku, Gp. Kontum.
Dẫu rằng đại đa số là Phạt tử, nhưng theo đề nghị của đa số, đoàn đã rời trại cô nhi Vinh Sơn 4 lúc 06g30, để vượt gần 60km đến Trung tâm Hành hương Đức Mẹ Măng Đen lúc 08g00. Trên đường đi, tôi có điều kiện giới thiệu đôi nét về Đức Mẹ Măng Đen. Vì thế, khi đến nơi, nhiều Phật tử đã đến thắp nhang và cầu xin với Đức Mẹ Măng Đen, bởi theo họ, có tin là có được.
Ngồi hàn huyên với thầy Quảng Không, thầy cho biết: “Nếu mỗi người đều sống với cái tâm sáng, lắng nghe và thực thi giáo huấn của đạo mình theo, thì thế giới này sẽ an hoà biết bao”.
Nghe những điều trên, tôi thầm cảm tạ Thiên Chúa, vì Ngài đã giúp tôi xác tín rằng - Chỉ khi sống và thực thi đức ái, chúng ta mới có thể hoàn thành sứ vụ rao giảng và làm chứng Tin Mừng cho mọi người, như Chúa Giêsu đã truyền dạy: “Anh em hãy đi khắp thế giới, loan báo Tin Mừng cho mọi thọ tạo” (Mc 16, 15).
Ơn được đền đáp
Rời Đức Mẹ Măng Đen lúc 09g30, đoàn đã theo tỉnh lộ 669 để về thị trấn An Khê. Vì lý do kỹ thuật, nửa đường đèo thì xe hết nhiên liệu. Ngay lúc đó, đoàn đã gặp may mắn, khi một chiếc xe du lịch đã quay đầu trở lại, chở phụ xế đi gần 10 cây số để mua dầu, mang về cho đoàn tiếp tục hành trình về Qui Nhơn. Chị Maria Trần Thúy Hà, thuộc giáo xứ Bà Trà, GP Phú Cường đã dâng lời nguyện xin - Con cảm tạ Chúa, vì chính Chúa đã sai những người anh em đến để giúp chúng con trong lúc ngặt nghèo này, vì Chúa đã phán: “Ta bảo thật cho các ngươi biết: những gì các ngươi đã không làm cho một trong các anh em bé mọn nhất của Ta đây, là các ngươi đã không làm cho chính Ta”.
Cuối cùng, đoàn đã đến Bệnh viện đa khoa Qui Nhơn lúc 17g30 để trao hơn 50 phần quà cho những bệnh nhân bị ung thư giai đoạn cuối.
Tại đây, tôi từ biệt đoàn để trở về thành phố lúc 18g00 hầu giải quyết bao công việc bề bộn, kết thúc một chuyến đi với bao cảm xúc đan xen sự “An hòa” trong tâm hồn, dẫu rằng đoàn vẫn còn một địa điểm đến tại Phú Yên.
Các cụ già được những người trẻ giúp mang quà về nhàVội vã lên xe, đoàn đã di chuyển đến trụ sở Ủy ban phường Khánh Xuân, Buôn Ma Thuột lúc 14g30 chiềuTại đây, đoàn đã trao tặng 130 phần quà cho các gia đình đang gặp khó khăn.Thầy Quang Không trao quà cho bà con nghèoBà con hớn hở mang quà về nhàSau thời gian nghỉ ngơi, đoàn đã rời thành phố Buôn Ba Thuột để đến trại cô nhi Vinh Sơn 4, thuộc huyện Kon Rẫy, tỉnh Kontum lúc 19g00 ngày 26/11/2014Đoàn đã trao 160 phần quà cho các em mồ côi người dân tộcNơi đây, 2 vị nữ tu đã trao đổi với nhau về sự thiếu vắng tình thương của các cháu mồ côiSáng hôm sau, khi nhìn các em cầm những tô mì gói để ăn sáng trước khi đến trường, nhiều người đã không cầm được nước mắt. Chụp hình lưu niệm với các em trước lúc chia tay, để đến viếng Đức Mẹ Măng Đen.Rời trại cô nhi Vinh Sơn 4 lúc 06g30, để vượt gần 60km đến Trung tâm Hành hương Đức Mẹ Măng Đen lúc 08g00. khi đến nơi, nhiều Phật tử đã đến thắp nhang và cầu xin với Đức Mẹ Măng Đen, bởi theo họ, có tin là có được.Thầy Quảng Không và đại diện đoàn chụp hình lưu niệm trước khi ra về

Thứ Năm, 31 tháng 7, 2014

Đạo Công Giáo với đạo hiếu của dân tộc Việt.

Tham luận của TS. Phạm Huy Thông* tại cuộc Tọa đàm khoa học: “Lễ Vu Lan - đạo Hiếu, giá trị nhân văn của Phật giáo với xã hội Việt Nam hôm nay” do Trung tâm bảo tồn di sản Tôn giáo của Ban Tôn giáo Chính Phủ và Giáo hội Phật giáo Việt Nam tổ chức vào ngày 23/7/2014.
conggiao.jpg  
Việt Nam là quốc gia đa tín ngưỡng, tôn giáo. Trước khi các tôn giáo lớn du nhập vào Việt Nam, nơi đây đã có tôn giáo, tín ngưỡng của dân tộc Việt. Vì vậy, cùng với quá trình tiếp thu và hội nhập văn hóa, có một tín ngưỡng của người Việt được hầu hết cộng đồng thực hiện dù họ có thể là tín đồ tôn giáo khác. Đó là đạo Hiếu của người Việt hay còn gọi là đạo Ông Bà, đạo Tổ Tiên - một tín ngưỡng có sự pha trộn của nhiều tôn giáo như Nho, Phật, Lão và sau này có cả đạo Công giáo nữa. Vì vậy, đạo Hiếu không phải của bất cứ tôn giáo nào mặc dù tôn giáo nào cũng có ứng xử hiếu nghĩa với ông bà, cha mẹ, tổ tiên. Trong bài viết này, chúng tôi muốn điểm lại ứng xử của đạo Công giáo với đạo Hiếu của người Việt.
 
Người Việt, không biết do phải đối mặt với thiên tai khắc nghiệt hay tại cuộc sống có quá nhiều khó khăn, mà luôn thấm đẫm bầu khí tâm linh trong lối sống, sinh hoạt riêng tư cũng như cộng đồng. Alexandre de Rhodes (1593-1660), một giáo sĩ tới Việt Nam khá sớm và có nhiều thành công trong truyền giáo cũng như đóng góp cho văn hóa nước ta đã nhận xét: “Trên trái đất này, có lẽ không có một dân tộc nào chu toàn bổn phận hơn và tôn kính hồn xác người quá cố hơn người dân vương quốc An Nam”(1). Linh mục Leopold Cadiere (1869-1955), một học giả có tiếng về Việt Nam học, nhận xét rất đúng rằng:
 
“Trước hết phải thừa nhận rằng, người An Nam, nói cho đúng, sống trong một thế giới siêu nhiên. Cách chung, người châu Âu khó mà hiểu được trạng thái tâm hồn này… Người An Nam thấy mọi biến cố may và nhất là biến cố rủi, đều biểu hiện sự can thiệp của thần thánh hay tổ tiên… Người Việt Nam tắm mình trong không khí tôn giáo. Họ có thể đặt mâm thờ, thắp hương, thành tâm cúng bái ở bất cứ chỗ nào như trong nhà, ngoài đường hay ở cả đền, am, miếu, nhà thờ, có thể tin đủ loại ma quỷ, thần thánh. Người ta cư xử với thần linh và vong hồn chẳng khác gì cư xử với con người. Dâng cúng họ những gì người thích, người cần: rượu, cơm, thịt, trái cây, tiền vàng, giấy bạc, hương hoa”(2).
 
Khi đặt chân tới Việt Nam, dù sinh trưởng ở các nước phương Tây có trình độ văn minh kỹ thuật cao, lại được đào tạo bài bản trong các trường danh tiếng ở châu Âu nhưng nhiều giáo sĩ buổi đầu đã giành nhiều lời ca ngợi về phong cảnh, tập tục, văn hóa, con người Việt Nam song họ cũng thẳng thắn phê phán những tập tục mê tín và lạc hậu ở đây. Alexandre de Rhodes đã chỉ trích nạn đốt vàng mã ở xứ này. Ông viết:
 
“Vì thế chúng tôi đã công khai công kích dị đoan và chế diễu tập quán kỳ dị này rằng, họ dám gửi cho cha mẹ những áo giấy mà những kẻ nghèo hèn nhất cũng không thèm mặc. Họ nói những đồ vàng mã đó sẽ hóa trong lửa. (Đúng lắm, chúng tôi đáp). Một phần chúng hóa ra tro, một phần chúng hóa ra lửa. Nếu là tro thì cha mẹ sẽ bị rét run, nếu là lửa thì cha mẹ sẽ bị thiêu trong áo nóng hổi”(3).
 
Một trong những điểm cốt lõi của đạo Hiếu của người Việt là tôn kính tổ tiên. Vấn đề này vốn gây ra tranh cãi dai dẳng trong giới Công giáo với tên gọi là vấn đề nghi lễ Trung Hoa kéo dài gần 3 thế kỷ (từ 1635 đến 1939) qua vài chục đời Giáo hoàng gây thiệt hại nặng nề cho giáo hội với sự đổ máu của không ít tín đồ ở châu Á. Cho nên trong nội bộ giáo hội Công giáo Việt Nam cũng bị chia rẽ thành hai lập trường. Những giáo sĩ dòng Tên thì nhìn nhận vấn đề thoáng hơn, coi việc tôn kính tổ tiên là vấn đề dân sự thể hiện lòng đạo đức chứ không phải tôn giáo. Vì thế khi Trịnh Tráng qua đời tháng 12-1657, lễ an táng rất lớn, đại diện các giáo sĩ dòng Tên ở Đàng Ngoài là P. Marini vẫn đến, đi chân đất, đầu đội mũ lục lăng và phục sát đất trước linh cữu làm cho chúa Trịnh rất hài lòng. Ngay cả khi Tòa thánh đã công bố Hiến chế Ex ilia die ngày 19-3-1715 về việc cấm các hình thức tôn kính tổ tiên và Đức Khổng, thì ở Việt Nam, các giáo sĩ dòng Tên vẫn cho phép:
 
“Tất cả các thầy cả dòng Đức Chúa Giêsu chấp nhận cho mọi giáo hữu được lạy cha mẹ sát đất khi các ngài còn sống hay đã qua đời, được gia giỗ, tức là được dâng cúng, bái lạy cùng các nghi lễ khác quen thi hành trong nước này vào ngày đầu năm hay những ngày khác… Ai không tuân giữ các nghi lễ trên tức là lỗi điều răn thứ bốn: Hãy thảo kính cha mẹ”(4).
 
Linh mục Sanna năm 1717 cũng cho phép giáo dân được tham gia đúc chuông chùa, may áo cho các nhà sư, làm hình nộm thê thiếp, voi để đốt trong tháng 7, xây miếu, chùa, giữ bài vị trong nhà và bưng mâm cúng đặt trên quan tài cũng như phần mộ. Giám mục Pineau de Behaine lúc lâm chung cũng trối lại rằng: “Xin hãy báo cho giáo hội rằng, cho đến lúc lâm chung, giám mục vẫn luôn giữ các ý kiến của mình về sự quỳ lạy trước linh cữu cha mẹ của người Á Đông”(5).
 
Ngược lại, các giáo sĩ của dòng Đa Minh lại bảo thủ hơn về vấn đề này. Mặc dù khi đến Việt Nam truyền giáo, Tòa thánh đã có huấn thị Monita nhắc nhở các giáo sĩ khi đến xứ này năm 1659: “Chư huynh đừng bao giờ muốn sửa đổi, đừng tìm lý lẽ nào để buộc dân chúng sửa đổi những phép xã giao, tập tục hay phong hóa của họ trừ khi nó hiển nhiên mâu thuẫn với đạo thánh và luân lý” (6). Tuy nhiên, sau khi có lệnh cấm của Tòa thánh về nghi lễ Trung Hoa, công đồng Hải Phố khai mạc ngày 26-10-1682 đã cấm người Công giáo để bàn thờ tổ tiên trong nhà. Thư chung của giám mục Gendreau (Đông) ngày 7-6-1739 quy định 36 điều cấm:
 
“Đức thánh Pha Pha thấy mọi sự vô đạo quen làm mà thờ kẻ chết là sự dối trá hết, bổn đạo cứ phép thánh Yghêrisa (Giáo hội) mà đưa xác kẻ có đạo. Cấm lạy xác kẻ chết, dù có đặt tượng chịu nạn ở đấy. Khóc thói vô đạo cũng cấm. Cấm xông hương, đốt nến cho kẻ chết… Cấm đọc văn tế cùng cắt tóc tang. Liệm xác đàn ông 7 lần, đàn bà 9 lần cùng đại, tiểu liệm thì cấm cả” (7).
 
Sự mâu thuẫn này dẫn đến tố cáo nhau của các nhóm đến tận Tòa thánh, không chỉ chia rẽ cộng đoàn giáo dân Việt mà còn gây rất nhiều khó khăn cho giáo dân khi theo đạo ở dân tộc có truyền thống đạo Hiếu. GS Nguyễn Khắc Dương kể lại chuyện phản ứng của gia đình sau khi gia nhập đạo Công giáo năm 1948:
 
“Vừa trông thấy tôi, bà gần như chồm tới và gần như ngã quỵ ôm lấy chân tôi khóc nức nở mà than rằng: Cháu ơi, cô hỏi cháu, cha ông cháu có tội tình chi, mà cháu cúi đầu cho họ dội nước để rửa sạch tội Tổ tông. Thật là nhục mạ đến tổ tiên họ Nguyễn Khắc nhà ta. Chớ cái tội cháu bỏ đạo ông bà, không thờ cúng tổ tiên, thì nói thật, lấy cát chà, dao cạo cũng không sạch, nói gì đến dội nước” (8).
 
Việc đạo Công giáo cấm giáo dân thờ kính tổ tiên trở thành một trong những lý do cấm đạo dưới các triều đại phong kiến nhà Nguyễn. Có nhà nghiên cứu viết: “Các vua Việt Nam cấm đạo không phải vì cuồng tín nhưng vì các ông ấy muốn bảo tồn nền thống nhất quốc gia về tinh thần và chính trị. Việc người Công giáo không thờ cúng tổ tiên làm thương tổn đến nền thống nhất tinh thần ấy” (9).
 
Cái giá phải trả cho sự cứng nhắc, độc tôn của đạo Công giáo ở Nhật Bản, Trung Quốc, Triều Tiên và Việt Nam đã buộc Vatican phải thay đổi thái độ. Từ quan điểm cởi mở hơn qua huấn dụ “Tám điều được phép làm” ngày 4-11-1721 cho phép được giữ bài vị trong nhà đến dâng đồ ăn, hoa quả cho người quá cố, từ khấu đầu trước bài vị đến thắp nhang, nến trước mồ mả. Nhưng phải đến huấn thị Plane compertum est của Bộ Truyền giáo ngày 08/12/1939 mới chấp thuận cho phép giáo dân được cúng giỗ tổ tiên theo phong tục địa phương. Đặc biệt những cải cách của Công đồng Vatican 2 đã biến đổi nhanh chóng quan niệm của các giáo hội Á châu trong đó có Việt Nam. Các giám mục Việt Nam đã làm tờ trình cho Tòa thánh ngày 20/10/1964 về vấn đề tôn kính tổ tiên và Tòa thánh đã chấp thuận. Ngày 14/6/1965, các giám mục Việt Nam (miền Nam) đã ra thông báo nêu rõ:
 
“Nhiều hành vi, cử chỉ xưa kia, tại Việt Nam, có tính cách tôn giáo, nhưng nay vì sự tiếp xúc với bên ngoài và vì tâm tình, tập quán đã thay đổi, nên chỉ còn là những phương cách biểu lộ lòng hiếu thảo tôn kính với Tổ tiên và các bậc anh hùng liệt sĩ. Những cử chỉ thái độ, nghi lễ, có tính cách thế tục lịch sự và xã giao đó, giáo hội Công giáo chẳng những không ngăn cấm mà còn mong muốn khuyến khích cho nó được diễn tả bằng các cử chỉ riêng biệt của mỗi nước, mỗi xứ và tùy theo trường hợp.
 
Vì thế những cử chỉ, thái độ và nghi lễ tự nó do hoàn cảnh, có một ý nghĩa thế tục rõ ràng là để tỏ rõ tinh thần ái quốc, lòng hiếu thảo, tôn kính hoặc tưởng niệm Tổ tiên và các bậc anh hùng liệt sĩ (như treo ảnh, hình, dựng tượng, nghiêng mình bái kính, trưng hoa đèn, tổ chức ngày kỵ giỗ…) thì được thi hành và tham dự cách chủ động”.
 
Các giám mục còn quy định thành 6 điểm cụ thể trong thông cáo ngày 14/11/1974 cho phép giáo dân được lập bàn thờ gia tiên, được đốt nhang đèn trên bàn thờ gia tiên, được cúng giỗ, kỵ nhật. Trong hôn lễ, dâu rể được làm lễ vái lạy tổ tiên. Trong tang lễ được vái lạy người quá cố. Được tham dự lễ thành hoàng làng hay tưởng nhớ các anh hùng liệt sĩ.
 
Bây giờ không những giáo hội Công giáo Việt Nam chấp thuận cho các tín hữu được thực hiện các nghi lễ của đạo Hiếu mà còn tiếp thu một số nghi lễ dân gian đó đưa vào phụng vụ của mình như dâng hương, trưng ảnh và thắp hương người quá cố (ảnh trên) thậm chí ghi những ước nguyện khấn xin ra giấy và đốt trước tượng ảnh Đức Mẹ. Người Công giáo kính nhớ tổ tiên nhưng không cúng bái linh đình, không đốt vàng mã, không xây nhà tổ tốn kém. Đó là điều đáng khen nhưng hiện nay đang có xu hướng xây dựng mồ mả hay nghĩa trang dòng họ đồ sộ vượt xa mức sống của người dân. Đó cũng là điều không nên.
 
Nhân đây cũng nói thêm rằng, với các tôn giáo khác, đạo Công giáo cũng thay đổi từ chỗ chống đối, loại trừ đến tôn trọng và hợp tác với nhau trong những công tác xã hội. Một sứ điệp của Tòa thánh gửi các Phật tử nhân dịp lễ Vesak năm 2014 có đoạn:
 
“Giáo hội Công giáo thành thực tôn trọng truyền thống tôn giáo quý báu của các bạn. Chúng tôi thường nhận thấy có sự gặp gỡ với những giá trị được diễn tả trong sách tôn giáo của các bạn như lòng tôn trọng sự sống, việc thiền định, sự thinh lặng và tính giản dị. Cuộc đối thoại huynh đệ của chúng ta cần cho thấy rằng các Phật tử và Kitô hữu chúng ta cùng chia sẻ một lòng tôn trọng sâu xa với đời sống” (10).
 
Những hình ảnh đẹp như giáo dân và Phật tử cùng nhau xây nhà thờ Công giáo hay ngôi chùa ở làng và cùng chung vui với nhau ngày lễ Noel hay ngày Phật đản. Những làng “xôi đỗ” ở Việt Nam là kết quả của sự sống chung giữa các tôn giáo ở Việt Nam cùng nhau xây dựng xã hội an bình chứ không bất ổn như một vài nơi trên thế giới khi các tôn giáo thậm chí các hệ phái của cùng tôn giáo cũng va chạm xung đột với nhau. Những nhà thờ Công giáo mang nhiều dấu ấn bản sắc văn hóa Việt như nhà thờ Phát Diệm ngày càng nhiều, những làn điệu thánh ca mang giai điệu dân ca từ miền xuôi đến miền rừng núi, những tranh, tượng thánh mang dáng dấp người Việt, phong cảnh Việt đang làm cho đạo Công giáo ngày càng gần gũi với dân tộc. Tất cả những điều đó đem lại một nét đặc sắc cho đạo Công giáo Việt Nam.

TS. Phạm Huy Thông


Chú thích
* Trưởng ban Tư duy Tôn giáo thuộc Trung tâm Khoa học Tư duy CTS.
1,3- A. Rhodes : Histoire du Royaume de Tunquin, Lyon 1651, p.92 et p.57
2- L. Cadiere: Về văn hóa và tín ngưỡng truyền thống người Việt  (dịch từ Magie et Religions Anamites, Paris 1912), Nxb VHTT 1977, tr.90
4- A. Launay: Histore de la mission de Cochinchine, tom I, Paris 1923, tr. 304
5- Vấn đề thờ cúng tổ tiên, Kỷ yếu Tọa đàm ở Huế năm 1988, tr.135
6,7,8- Phạm Huy Thông: Ảnh hưởng qua lại giữa đạo Công giáo và văn hóa Việt Nam, Nxb Tôn giáo 2012, tr.132, tr.141, tr.152
9- Le Thanh Khoi: Histoire et civilisation, Paris 1955, p.340
10- Sứ điệp do Hồng y Jean Louis Tauran – Chủ tịch Hội đồng Đối thoại liên tôn của Tòa thánh ký ngày 13-5-2014.
nguồn conggiao.info

Thứ Ba, 22 tháng 7, 2014

Đức Thánh Cha tiếc thương Giám Mục Tin Lành Tony Palmer


Sau nhiều giờ giải phẩu sau một tai nạn giao thông tại Anh khi đang di chuyển trên một chiếc mô tô, Giám Mục Tony Palmer của Liên Hiệp Các Giáo Phái Phúc Âm đã qua đời hôm Chúa Nhật 20 tháng 7.

Đức Thánh Cha đã bày tỏ sự tiếc thương của ngài trước cái chết của người bạn thân đã từng quen biết nhiều năm với ngài.

Đầu năm nay, hàng trăm các tín hữu Tin Lành thuộc phái Ngũ Tuần đang trong tuần lễ cầu nguyện cho hiệp nhất Kitô Giáo tại Hoa Kỳ đã theo dõi một đoạn video do Giám Mục Tony Palmer ghi bằng iphone trong cuộc gặp gỡ với Đức Thánh Cha Phanxicô hôm 14 tháng Giêng. Trong đoạn video này, Đức Thánh Cha Phanxicô đã gởi đến Đại Hội của họ những tâm tình mong muốn sự hiệp nhất Kitô Giáo của ngài. 

Qua người vợ Ý thuộc Phong Trào Canh Tân Đặc Sủng Công Giáo, Tony Palmer đã trở thành gạch nối với Giáo Hội Công Giáo và đã từng làm việc với nhiều giới chức Công Giáo tại Rôma. Đặc biệt nhất là trong giai đoạn hoạt động tại Á Căn Đình, ông đã quen biết với Đức Tổng Giám Mục Bergolio từ năm 2006 và nhận Đức Tổng Giám Mục làm linh hướng. 

Theo lời ông trình bày trước Đại Hội, thì giữa tháng Mười Hai vừa qua, ông nhận được cú điện thoại từ Đức Phanxicô ngỏ ý muốn gặp ông. Trong cuộc tiếp kiến ngày 14 tháng Giêng tại Vatican, ông cho Đức Phanxicô hay mình sắp sửa tham dự Đại Hội này, nếu Đức Phanxicô có mấy lời nhắn với Đại Hội thì hay biết mấy. 

Giám Mục Tony Palmer nói:

"Tôi hỏi: Đức Thánh Cha có muốn tôi viết xuống không? Ngài nói: sao anh không thu một đoạn video? Tôi thực sự đã nghĩ đến chuyện này, tôi luôn có iPhone trong túi. Tôi đã nghĩ đến việc xin ngài điều này.. . nhưng tôi không muốn lạm dụng tình bạn của chúng tôi."

Trong đoạn video Đức Thánh Cha nói bằng tiếng Anh nhưng pha với tiếng Ý:

“Xin lỗi anh chị em vì đôi khi tôi nói bằng tiếng Ý. Nhưng tôi nói chẳng bằng tiếng Anh hay tiếng Ý, nhưng bằng tiếng nói con tim. Đó là thứ ngôn ngữ đơn giản và chân thật hơn, và thứ ngôn ngữ này có từ vựng và văn phạm của nó. Một văn phạm đơn giản với hai luật: Yêu mến Thiên Chúa trên hết mọi sự và yêu mến tha nhân vì họ là anh chị em của chúng ta. Với hai luật ấy, chúng ta có thể tiến về phiá trước.

Tôi đang ở đây với người anh em mình, với Giám Mục anh em Tony Plamer. Chúng tôi đã là bạn cố tri trong nhiều năm. Ngài bảo với tôi về Đại Hội của anh chị em, về cuộc gặp gỡ của anh chị em. Và tôi thật hân hạnh được chào đón anh chị em với cả niềm vui và nỗi khát khao. 

Vui vì thấy anh chị em cùng tụ họp để tôn thờ Chúa Giêsu Kitô là Chúa duy nhất và cầu nguyện cùng Chúa Cha để đón nhận Thánh Thần. Điều này thật vui vì chúng ta có thể thấy Chúa đang hoạt động khắp cùng bờ cõi trái đất. Khát khao vì điều xảy ra là trong chỗ chòm xóm với nhau có những gia đình yêu mến nhau nhưng cũng có những gia đình không ưa nhau. Những gia đình tụ họp cùng nhau và những gia đình phân rẽ. Chúng ta thuộc loại, chop phép tôi được nói, là phân rẽ. Phân rẽ vì tội lỗi đã chia cách chúng ta, tội lỗi của tất cả chúng ta. Những hiểu nhầm xuyên suốt trong lịch sử. Đó là hành trình dài của tội lỗi mà tất cả chúng ta đều dự phần. Trách ai bây giờ?

Tôi khát khao rằng sự phân rẽ này đến hồi kết thúc để chúng ta được hiệp nhất. Tôi khao khát sự chấp nhận lẫn nhau này.

Thánh Kinh đã đề cập đến gia đình của anh em Giuse khi nạn đói xảy ra họ trẩy sang Ai cập để mua cái gì đó để ăn. Họ có tiền nhưng họ không ăn tiền được. Nhưng ở đó họ gặp được cái còn quý hơn thực phẩm: đó là người anh em của mình. Tất cả chúng ta đều có tiền là văn hóa, là lịch sử của chúng ta. Chúng ta giầu có về văn hóa, tôn giáo và chúng ta có những truyền thống dị biệt. Nhưng chúng ta phải gặp gỡ người khác như những anh chị em của mình. Chúng ta phải khóc cùng nhau như Giuse đã từng khóc. Những giọt nước mắt này hiệp nhất chúng ta. Những giọt lệ của yêu thương. 

Tôi nói chuyện với quý vị như những anh chị em với nhau bằng những từ ngữ đơn giản. Với niềm vui và nỗi khát khao. Chúng ta hãy để nỗi khát khao được gặp gỡ và ôm lấy nhau tăng trưởng trong chúng ta vì điều này thúc đẩy chúng ta tìm kiếm nhau và chấp nhận nhau. Và cùng tôn thờ Chúa Giêsu Kitô là Chủ Tể của lịch sử, là Chúa và là Chúa duy nhất của Giáo Hội, chúng ta hãy cầu nguyện với Ngài cho sự hiệp nhất. 

Tôi chân thành cám ơn anh chị em đã lắng nghe tôi. Tôi chân thành cám ơn anh chị em đã cho tôi nói ngôn ngữ của con tim. Và tôi cũng xin anh chị em hãy cầu nguyện cho tôi vì tôi cần những lời cầu nguyện của anh chị em.

Và chúng ta hãy cầu xin Chúa cho chúng ta được hiệp nhất. Chúng ta là anh chị em với nhau. 

Chúng ta hãy tiến về phía trước, chúng ta là anh chị em với nhau và trong tinh thần chúng ta hãy ôm lấy nhau. Xin Chúa hoàn thành công việc Ngài đã bắt đầu. Cơ may này là một phép lạ, phép lạ của tình hiệp nhất đã bắt đầu. Một nhà văn Ý nổi tiếng là Manzoni, đã viết về điều này trong những tiểu thuyết của ông. Ông là một người đơn giản và ông đã viết: ‘Tôi chưa bao giờ nhìn thấy một phép lạ Chúa đã bắt đầu mà lại không kết thúc nó một cách chính xác.’ Chúa sẽ hoàn thành phép lạ của sự hiệp nhất này."

Thông điệp video của Đức Giáo Hoàng làm sững sờ những người hiện diện. Đức Thánh Cha sau đó đã yêu cầu các tham dự viên cầu nguyện theo ước nguyện của Chúa Kitô “Ut unum sint - Để Chúng Nên Một.” Cộng đồng Ngũ Tuần đáp lại bằng những lời cầu nguyện và gửi đến Đức Thánh Cha một video của họ được thực hiện trong dịp này.
W.Vietcatholic.Đặng Tự Do,

Thứ Bảy, 19 tháng 7, 2014

Sứ điệp của Hội đồng Toà Thánh về Đối thoại Liên tôn gửi người Hồi giáo nhân dịp kết thúc tháng Ramadan.

Đức hồng y Jean-Louis Tauran
WHĐ (19.07.2014) – Ngày 18-07, Phòng Báo chí Toà Thánh đã công bố Sứ điệp hằng năm của Hội đồng Toà Thánh về Đối thoại Liên tôn gửi người Hồi giáo nhân dịp kết thúc tháng Ramadan. Sứ điệp có chủ đề “Hướng đến một tình huynh đệ đích thực giữa người Hồi giáo và người Kitô hữu”, được Đức hồng y Chủ tịch Jean-Louis Tauran và linh mục thư ký Hội đồng,Miguel Ángel Ayuso Guixot, M.C.C.J. ký ngày 24 tháng Sáu 2014.
Sau đây là bản dịch toàn văn Sứ điệp:
***
Hướng đến một tình huynh đệ đích thực giữa người Hồi giáo và người Kitô hữu
Anh Chị Em Hồi giáo thân mến,
Chúng tôi rất vui mừng gửi đến Anh Chị Em lời chúc mừng chân thành nhất và lời cầu chúc tốt đẹp nhất nhân dịp lễ‘Id al-Fitr, kết thúc tháng Ramadan dành cho chay tịnh, cầu nguyện và cứu giúp người nghèo.
Năm ngoái, năm đầu tiên trong thừa tác vụ, Đức giáo hoàng Phanxicô đã đích thân ký sứ điệp truyền thống. Vàomột dịp khác, ngài đã ngỏ lời với Anh Chị Em là “những người anh em, chị em của chúng tôi” (Kinh Truyền tin,11-08-2013). Chúng tôi hiểu rõ những từ này có ý nghĩa gì. Thực tế, người Kitô hữu và người Hồi giáo đều là anh chị em trong gia đình nhân loại được Thiên Chúa tạo dựng.
Chúng ta hãy nhớ lại lời Đức giáo hoàng Gioan Phaolô II nói với các nhà lãnh đạo Hồi giáo vào năm 1982: “Tất cả chúng ta, những người Hồi giáo và Kitô hữu, chúng ta đang sống dưới ánh mặt trời của cùng một Thiên Chúa giàu lòng thương xót. Chúng ta cùng tin tưởng vào một Thiên Chúa, Đấng tạo dựng loài người. Chúng ta tung hô chủ quyền của Thiên Chúa và chúng ta bảo vệ phẩm giá của con người như là tôi tớ của Thiên Chúa. Chúng ta tôn thờThiên Chúa và tuyên xưng chúng ta hoàn toàn tuân phục Ngài. Vì vậy, chúng ta có thể gọi nhau theo đúng nghĩa củatừ này: anh chị em trong đức tin vào cùng Thiên Chúa duy nhất” (Kaduna, Nigeria, ngày 14-02-1982).
Chúng ta tạ ơn Đấng Tối Cao về những gì chúng ta có chung với nhau, tuy vẫn ý thức về những khác biệt. Chúng tanhận ra tầm quan trọng của việc thúc đẩy một cuộc đối thoại hiệu quả, dựa trên sự tôn trọng lẫn nhau và tình bạn.Trên nền tảng những giá trị được chia sẻ và củng cố nhờ tình huynh đệ đích thực, chúng ta được mời gọi cùng nhaulàm việc cho công lý, hòa bình và sự tôn trọng quyền lợi và phẩm giá của mỗi người. Chúng ta cảm thấy có trách nhiệm, một cách đặc biệt, với những người cần được giúp đỡ nhất: người nghèo, bệnh nhân, các trẻ em mồ côi,người nhập cư, nạn nhân của nạn buôn người và những người đau khổ vì lệ thuộc bất cứ thứ gì.
Chúng ta biết rằng thế giới ngày nay đang đối mặt với những thách thức nghiêm trọng đòi hỏi tất cả mọi người thiện chí phải liên đới với nhau. Đó là các mối đe dọa đè nặng trên môi trường, cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu và số người thất nghiệp cao, đặc biệt nơi giới trẻ. Những tình cảnh này gây ra cảm giác bấp bênh và thiếu hy vọng vềtương lai. Cũng đừng quên những vấn đề mà nhiều gia đình gặp phải: ly dị, bỏ rơi thân nhân và thường là con cái nhỏ tuổi.
Vì vậy chúng ta hãy cùng nhau dựng xây những nhịp cầu hoà bình và thúc đẩy hoà giải, nhất là ở các khu vực màngười Hồi giáo và người Kitô hữu đang phải đau khổ chung vì những nỗi kinh hoàng do chiến tranh.
Mong sao tình bạn thúc đẩy chúng ta luôn hợp tác với nhau để đương đầu với những thách đố này một cách khôn ngoan và thận trọng. Nhờ đó, chúng ta sẽ góp phần giảm bớt những căng thẳng và xung đột, đồng thời thăng tiếncác thiện ích chung. Chúng ta cũng sẽ chứng tỏ rằng tôn giáo là nguồn hoà điệu nhằm thiện ích của toàn xã hội.
Chúng ta hãy cầu nguyện cho hoà giải, công lý, hòa bình và sự phát triển tiếp tục là những ưu tiên quan trọng hàng đầu của chúng ta, vì hạnh phúc và thiện ích của gia đình nhân loại.
Cùng với Đức giáo hoàng Phanxicô, chúng tôi thân chúc Anh Chị Em một ngày lễ vui tươi và một cuộc sống thịnh vượng trong bình an.
Vatican, ngày 24 tháng Sáu 2014
Hồng y Jean-Louis Tauran
Chủ tịch
P. Miguel Ángel Ayuso Guixot, MCCJ
Thư ký

Huy Hoàng chuyển ngữ