CĂN BỆNH PHE NHÓM TRONG ĐỜI SỐNG THÁNH HIẾN
(phần 1) .
Lm Anmai,CSsR
Có những căn bệnh trong đời sống thánh hiến dễ nhận ra, vì nó bộc lộ thành những sai phạm rõ ràng, những gương xấu công khai, những khủng hoảng khiến cộng đoàn phải đau đớn đối diện. Nhưng cũng có những căn bệnh âm thầm hơn, kín đáo hơn, được che phủ bằng những lời nói rất đẹp, những lý do xem ra rất chính đáng, thậm chí khoác lên mình chiếc áo của lòng trung thành, sự nhiệt thành hay tinh thần bảo vệ Hội Dòng. Một trong những căn bệnh nguy hiểm ấy là căn bệnh phe nhóm.
Phe nhóm không phải lúc nào cũng bắt đầu từ một âm mưu xấu xa. Nhiều khi nó bắt đầu rất bình thường: vài người hợp tính nhau, hiểu nhau, dễ chia sẻ với nhau, thường xuyên làm việc chung với nhau. Gần gũi tự nó không phải là điều xấu. Tình bạn trong đời tu là một hồng ân. Sự đồng cảm giữa những người cùng lý tưởng có thể nâng đỡ ơn gọi, giúp nhau vượt qua khó khăn và làm cho đời sống cộng đoàn trở nên ấm áp hơn. Nhưng tình bạn bắt đầu trở thành phe nhóm khi sự gần gũi với một vài người dẫn đến việc khép kín trước những người còn lại; khi người ta không còn gặp nhau để cùng tìm ý Chúa, nhưng để củng cố quan điểm riêng; khi người ta bảo vệ nhau bất chấp đúng sai; khi những câu chuyện riêng tư trở thành nơi phán xét người vắng mặt; khi lòng trung thành với nhóm trở nên mạnh hơn lòng trung thành với sự thật, với cộng đoàn và với Đức Kitô.
Căn bệnh phe nhóm đáng sợ ở chỗ nó có thể hiện diện ngay trong một cộng đoàn vẫn đọc kinh chung, dâng lễ chung, dùng bữa chung và cùng sống dưới một mái nhà. Bên ngoài, mọi sự vẫn bình thường. Thời khóa biểu vẫn được tuân giữ. Công việc vẫn được thực hiện. Những lời chào hỏi vẫn được trao đổi. Nhưng bên trong, cộng đoàn đã bị chia thành những vòng tròn vô hình. Có nhóm gần bề trên. Có nhóm không hài lòng với bề trên. Có nhóm những người lớn tuổi. Có nhóm những người trẻ. Có nhóm học cao. Có nhóm làm mục vụ. Có nhóm xuất thân cùng miền. Có nhóm có ảnh hưởng. Có nhóm cảm thấy mình bị bỏ quên. Mỗi nhóm có câu chuyện riêng, cách nhìn riêng, nỗi bất mãn riêng và đôi khi có cả một danh sách những người được xem là “phe bên kia”.
Đáng buồn hơn, người trong cuộc không phải lúc nào cũng nhận ra mình đang sống trong phe nhóm. Ai cũng có lý do để biện minh. Người ta nói: “Chúng tôi chỉ là những người hiểu nhau.” “Chúng tôi chỉ muốn góp ý cho cộng đoàn.” “Chúng tôi chỉ chia sẻ để nâng đỡ nhau.” “Chúng tôi chỉ muốn bảo vệ truyền thống.” “Chúng tôi chỉ muốn giúp bề trên thấy sự thật.” “Chúng tôi không chống ai cả.” Những lời ấy có thể đúng ở khởi đầu. Nhưng nếu không tỉnh thức, điều được gọi là chia sẻ có thể dần trở thành nói xấu; điều được gọi là góp ý có thể trở thành kết án; điều được gọi là bảo vệ truyền thống có thể trở thành chống lại mọi đổi mới; điều được gọi là nâng đỡ nhau có thể biến thành che giấu sai lầm cho nhau; điều được gọi là trung thành có thể trở thành sự lệ thuộc mù quáng vào một con người hay một nhóm người.
Dấu hiệu đầu tiên của phe nhóm là cộng đoàn không còn nhìn nhau bằng ánh mắt của anh chị em, nhưng bằng ánh mắt dò xét. Người ta không còn lắng nghe nội dung của một lời nói, nhưng trước hết xem người nói thuộc về nhóm nào. Cùng một đề nghị, nếu do người trong nhóm đưa ra thì được xem là sáng suốt; nếu do người ngoài nhóm đưa ra thì bị nghi ngờ. Cùng một lỗi lầm, nếu là người mình quý thì được giải thích bằng sự cảm thông; nếu là người mình không ưa thì bị phóng đại thành bằng chứng về một nhân cách xấu. Cùng một thành công, nếu là người thân với mình thì được ca ngợi; nếu là người không cùng phía thì bị coi là phô trương, tham vọng hay tìm danh tiếng.
Một khi tâm hồn đã bị tinh thần phe nhóm chi phối, con người không còn nhìn sự việc như nó là. Họ nhìn mọi sự qua lăng kính của yêu ghét, thân sơ, lợi ích và định kiến. Sự thật không còn là điều cần tìm kiếm, nhưng trở thành thứ được lựa chọn để phục vụ cho lập trường của mình. Người ta chỉ nhớ những điều có lợi cho nhóm mình và quên những điều bất lợi. Người ta chỉ nhắc đến thiếu sót của người khác mà im lặng trước thiếu sót của người mình bảo vệ. Người ta sẵn sàng tin một lời đồn bất lợi cho người mình không thích, nhưng lại đòi bằng chứng tuyệt đối khi có điều gì đó liên quan đến người trong nhóm mình.
Khi ấy, lương tâm cộng đoàn bị bẻ cong mà không ai dễ dàng nhận ra. Người ta vẫn nói về công bằng, nhưng sự công bằng chỉ được áp dụng cho người khác. Người ta vẫn nói về vâng phục, nhưng chỉ đòi người không cùng phía phải vâng phục. Người ta vẫn nói về bác ái, nhưng bác ái chỉ dành cho người trong vòng tròn thân thiết. Người ta vẫn nói về đối thoại, nhưng đối thoại chỉ có nghĩa là người khác phải nghe mình. Người ta vẫn nói về hiệp nhất, nhưng hiệp nhất được hiểu là mọi người phải đồng ý với nhóm của mình.
Căn bệnh phe nhóm làm cho đời sống thánh hiến đánh mất vẻ đẹp sâu xa nhất của nó. Người tu sĩ không được gọi để xây dựng một nhóm nhỏ quanh mình, nhưng để trở nên dấu chỉ của một nhân loại được quy tụ trong Đức Kitô. Lời khấn không đưa người tu sĩ vào một liên minh của những người hợp tính, nhưng đưa họ vào một cộng đoàn gồm những con người khác nhau, nhiều khi rất khác nhau. Chính trong sự khác biệt ấy, người tu sĩ học yêu như Đức Kitô yêu, học đón nhận như Đức Kitô đón nhận, học tha thứ như Đức Kitô tha thứ và học chết đi cho cái tôi như Đức Kitô đã hiến mình.
Nếu chỉ yêu người hợp với mình, người tu sĩ chưa cần đến Tin Mừng. Nếu chỉ sống tốt với người quý mến mình, người tu sĩ chưa cần đến ân sủng đặc biệt nào. Người đời cũng có thể làm như thế. Thử thách thật sự của đời sống cộng đoàn nằm ở chỗ người tu sĩ có thể nhận người mình không chọn làm anh chị em hay không; có thể phục vụ người không hiểu mình hay không; có thể cầu nguyện cho người đã làm mình tổn thương hay không; có thể bảo vệ danh dự của người không thuộc nhóm mình hay không; có thể nhìn nhận điều tốt nơi người mình từng bất đồng hay không.
Cộng đoàn không phải là nơi quy tụ những người giống nhau, nhưng là nơi những con người khác nhau được Đức Kitô quy tụ. Người tu sĩ không đến với cộng đoàn vì tất cả mọi người đều dễ thương, nhưng vì tin rằng Chúa đang hiện diện trong những con người mình không tự chọn. Có khi người làm mình khó chịu nhất lại chính là người Chúa dùng để bẻ gãy sự tự mãn trong mình. Có khi người có cách suy nghĩ khác mình lại là người giúp mình thoát khỏi cái nhìn phiến diện. Có khi người mình muốn tránh né lại là lời mời gọi sâu xa nhất để mình bước ra khỏi sự ích kỷ và trưởng thành trong đức ái.
Phe nhóm thường phát triển mạnh ở nơi người ta không dám đối thoại trực tiếp. Khi có vấn đề với một người, thay vì gặp người ấy để trao đổi trong sự thật và bác ái, người ta đi kể với người thứ ba, thứ tư, thứ năm. Mỗi lần câu chuyện được kể lại, nó được thêm một chút cảm xúc, một chút suy đoán, một chút phán xét. Từ một sự việc nhỏ, người ta dựng nên một chân dung lớn. Từ một lời nói vụng về, người ta kết luận về cả một con người. Từ một quyết định chưa hợp lý, người ta suy diễn thành ý đồ xấu. Cuối cùng, người bị nói đến trở thành một con người hoàn toàn khác với con người thật của họ, nhưng lại không có cơ hội giải thích hay tự bảo vệ.
Trong các cuộc gặp riêng ấy, người ta có cảm giác mình đang tìm kiếm sự cảm thông, nhưng đôi khi điều người ta thật sự tìm kiếm là người đứng về phía mình. Người ta không muốn nghe một lời giúp mình xét lại. Người ta chỉ muốn nghe: “Bạn đúng. Người kia sai. Bạn bị đối xử bất công. Chúng tôi ủng hộ bạn.” Và người bạn thật sự, thay vì giúp ta đối diện với sự thật, lại dễ dàng trở thành người nuôi dưỡng sự cay đắng trong ta.
Một người bạn trong đời tu không phải là người luôn đứng về phía ta, nhưng là người giúp ta đứng về phía sự thật. Một người anh em tốt không phải là người luôn bảo vệ cảm xúc của ta, nhưng là người có thể nhẹ nhàng nói rằng ta đang thiếu bác ái, đang nhìn phiến diện, đang nuôi định kiến hay đang tự thương hại mình. Tình bạn thật không làm cho ta khép kín trong cái tôi, nhưng mở ta ra với cộng đoàn. Tình bạn thật không kích động ta chống lại người khác, nhưng giúp ta can đảm đi bước trước trong hòa giải.
Phe nhóm cũng thường nảy sinh từ những tổn thương không được chữa lành. Một người từng bị hiểu lầm, bị đối xử thiếu công bằng, bị bỏ qua trong một trách nhiệm, bị phê bình trước cộng đoàn hay bị một bề trên làm tổn thương có thể mang trong lòng một vết đau rất sâu. Nếu vết đau ấy không được đưa ra ánh sáng, không được cầu nguyện, đối thoại và chữa lành, người ấy dễ tìm đến những người có cùng nỗi bất mãn. Những người bị tổn thương tụ lại với nhau và cảm thấy an toàn khi cùng nhắc lại điều đã xảy ra. Ban đầu, họ an ủi nhau. Sau đó, họ củng cố cho nhau niềm tin rằng mình là nạn nhân. Dần dần, họ xây dựng cả một hệ thống giải thích trong đó nhóm mình luôn là những người bị thiệt thòi, còn những người khác luôn là nguyên nhân của mọi vấn đề.
Nỗi đau cần được lắng nghe, nhưng nếu chỉ được lặp lại mà không được biến đổi, nó sẽ trở thành độc tố. Có những người sống nhiều năm trong đời tu nhưng vẫn mang theo những câu chuyện cũ. Mỗi khi cộng đoàn có vấn đề mới, họ lại đem quá khứ ra để chứng minh rằng “mọi sự vẫn như vậy”, “người ta không bao giờ thay đổi”, “nhóm ấy lúc nào cũng được ưu tiên”. Quá khứ không còn là điều đã được chữa lành, nhưng trở thành kho vũ khí được dùng trong mọi cuộc xung đột.
Một người không được chữa lành rất dễ trở thành người gây tổn thương. Một người luôn cảm thấy mình bị loại trừ có thể vô thức tạo ra một nhóm riêng để loại trừ người khác. Một người từng bị coi thường có thể tìm sức mạnh bằng cách liên kết với những người có ảnh hưởng. Một người sợ bị bỏ rơi có thể kiểm soát bạn bè và đòi họ phải trung thành tuyệt đối với mình. Một người thiếu cảm thức về giá trị bản thân có thể cảm thấy mạnh hơn khi thuộc về một nhóm đông, một nhóm có tiếng nói hay một nhóm có quyền lực.
Bởi thế, chữa căn bệnh phe nhóm không chỉ là giải tán những nhóm nhỏ hay thay đổi cách tổ chức. Điều cần thiết hơn là chữa lành những vết thương sâu xa trong từng con người. Bao lâu một người chưa tìm được sự an toàn nơi Thiên Chúa, họ còn có nguy cơ tìm sự an toàn nơi phe nhóm. Bao lâu một người chưa ý thức giá trị của mình đến từ việc được Thiên Chúa yêu thương, họ còn có thể tìm giá trị bằng việc được một nhóm người công nhận. Bao lâu một người chưa đủ tự do nội tâm, họ còn dễ bị kéo vào những mối liên kết dựa trên sợ hãi, lợi ích và quyền lực.
Có khi phe nhóm hình thành quanh một nhân vật có sức ảnh hưởng. Người ấy có thể là bề trên, nguyên bề trên, người lớn tuổi, người có tài, người giữ trách nhiệm quan trọng, người có khả năng tài chính, người có nhiều tương quan hoặc người được nhiều người kính trọng. Tự thân ảnh hưởng không phải là điều xấu. Một người có uy tín có thể dùng ảnh hưởng để nâng đỡ, nối kết và xây dựng hiệp nhất. Nhưng ảnh hưởng trở nên nguy hiểm khi người ấy thích có những người trung thành với cá nhân mình hơn là trung thành với sứ mạng chung.
Có những người không trực tiếp yêu cầu ai theo phe mình, nhưng lại tạo ra một bầu khí khiến người khác hiểu rằng: muốn được tin tưởng, muốn được nâng đỡ, muốn được giao việc, muốn được bảo vệ, thì phải đứng gần họ. Họ có thể dành sự ưu ái cho một số người, chia sẻ thông tin riêng với một số người, lắng nghe một số người nhiều hơn những người khác. Dần dần, chung quanh họ hình thành một vòng tròn thân tín. Những người ở trong vòng tròn ấy cảm thấy mình quan trọng. Những người ở ngoài cảm thấy mình bị bỏ rơi hoặc bị nghi ngờ.
Đây là cám dỗ rất tinh tế đối với người có trách nhiệm. Người lãnh đạo dễ cảm thấy an toàn khi ở bên những người luôn đồng ý với mình. Người ấy có thể nghĩ rằng những người ấy trung thành, dễ cộng tác và có tinh thần. Nhưng nếu chỉ nghe người thuận ý mình, bề trên sẽ dần mất khả năng nghe sự thật. Những người muốn giữ vị trí gần bề trên sẽ chỉ trình bày điều bề trên thích nghe. Những tiếng nói khác biệt bị xem là chống đối. Những góp ý chân thành bị dán nhãn là thiếu vâng phục. Sau một thời gian, bề trên có thể sống trong một thế giới được xây dựng bởi những người thân cận, trong khi thực tế của cộng đoàn lại rất khác.
Người lãnh đạo trong đời sống thánh hiến phải đặc biệt tỉnh thức trước cám dỗ xây dựng một “triều đình” quanh mình. Bề trên không được gọi để có phe của riêng mình. Bề trên thuộc về mọi thành viên, kể cả những người khó gần, những người ít nói, những người thường bất đồng và những người không biết làm đẹp lòng mình. Quyền bính trong đời tu không phải là đặc quyền để quy tụ người trung thành với cá nhân, nhưng là trách nhiệm phục vụ sự hiệp nhất trong ý Chúa.
Một bề trên trưởng thành không sợ những tiếng nói khác biệt. Người ấy không chỉ hỏi: “Ai ủng hộ tôi?”, nhưng hỏi: “Điều gì là sự thật? Chúa đang muốn gì? Người yếu thế nhất trong cộng đoàn đang cảm thấy thế nào?” Người ấy không vội coi người góp ý là chống đối, cũng không vội coi người khen mình là trung thành. Người ấy biết rằng đôi khi người can đảm nói điều khó nghe lại là người thật sự yêu cộng đoàn; còn người lúc nào cũng nói lời dễ nghe có thể chỉ đang bảo vệ lợi ích của mình.
Căn bệnh phe nhóm cũng có thể gắn với nguồn gốc vùng miền, quốc gia, ngôn ngữ, thế hệ, trình độ học vấn hoặc loại hình sứ vụ. Người cùng quê dễ gần nhau hơn. Người cùng thế hệ dễ hiểu nhau hơn. Người cùng môi trường đào tạo dễ chia sẻ với nhau hơn. Điều ấy rất tự nhiên. Nhưng điều tự nhiên phải được thanh luyện bởi Tin Mừng. Nếu không, sự khác biệt trở thành ranh giới. Người ta bắt đầu nói: “Người miền ấy thường như thế.” “Lớp trẻ bây giờ không biết hy sinh.” “Những người lớn tuổi bảo thủ.” “Nhóm học cao thì kiêu ngạo.” “Những người làm mục vụ không có chiều sâu.” “Những người ở nhà thì không hiểu thực tế.” Những phán đoán tập thể như thế làm mất khuôn mặt độc đáo của từng con người.
Không ai chỉ là đại diện cho một vùng miền, một thế hệ hay một nhóm đào tạo. Mỗi người là một mầu nhiệm, có lịch sử, vết thương, ân sủng và hành trình riêng. Khi dán nhãn người khác, ta không còn gặp họ như một con người. Ta chỉ gặp hình ảnh do định kiến trong ta tạo ra. Và một khi đã dán nhãn, mọi việc họ làm đều được giải thích theo chiếc nhãn ấy.
Người trẻ lên tiếng thì bị xem là bồng bột. Người lớn tuổi góp ý thì bị xem là bảo thủ. Người có học thì bị xem là kiêu căng. Người ít học thì bị xem là hạn chế. Người năng động thì bị xem là tìm danh. Người thinh lặng thì bị xem là thiếu trách nhiệm. Người gần bề trên thì bị nghi là xu nịnh. Người ít gần bề trên thì bị nghi là bất mãn. Khi tinh thần phe nhóm lan rộng, không ai còn được nhìn với sự trong sáng. Mọi người đều bị đọc bằng thành kiến.
Phe nhóm làm cho những cuộc họp cộng đoàn trở nên hình thức. Người ta có mặt, nhưng không thật sự hiện diện. Có những ý kiến đã được bàn bạc trước trong nhóm nhỏ. Có những quyết định đã được vận động trước khi cuộc họp bắt đầu. Có những người lên tiếng không phải từ suy tư cá nhân, nhưng để đại diện cho nhóm. Có những người im lặng không phải vì đồng ý, nhưng vì biết nói cũng không thay đổi được gì. Có những người bỏ phiếu không theo lương tâm, nhưng theo tín hiệu của người có ảnh hưởng.
Khi ấy, phân định cộng đoàn bị biến thành cuộc đếm số. Người ta không còn cùng nhau đặt mình trước Chúa để tìm kiếm điều tốt nhất cho sứ mạng, nhưng tìm cách để quan điểm của nhóm mình thắng thế. Thắng một cuộc bỏ phiếu được xem là thành công, dù cộng đoàn bị chia rẽ sâu hơn. Người ta quên rằng trong đời sống thánh hiến, không phải mọi quyết định được đa số ủng hộ đều tự động là ý Chúa. Ý Chúa không phải là sản phẩm của liên minh, vận động hay áp lực. Ý Chúa được nhận ra trong cầu nguyện, lắng nghe, tự do nội tâm, tôn trọng sự thật và sẵn sàng từ bỏ lợi ích riêng.
Có những cộng đoàn nhìn bên ngoài rất thành công nhưng bên trong đầy phe nhóm. Công việc phát triển. Cơ sở vật chất khang trang. Mục vụ được nhiều người biết đến. Các chương trình được tổ chức quy mô. Nhưng những người sống chung không còn tin nhau. Họ hợp tác vì công việc chứ không thật sự hiệp thông. Họ có thể cùng đứng trên một sân khấu, cùng xuất hiện trong một bức hình, cùng ký tên vào một văn bản, nhưng trong lòng đầy nghi ngờ và xa cách.
Thành công bên ngoài không thể bù đắp cho thất bại trong tình huynh đệ. Một Hội Dòng có thể làm được rất nhiều việc cho người khác, nhưng nếu các thành viên không thể yêu thương nhau, thì lời chứng của Hội Dòng ấy đã bị tổn thương từ bên trong. Thế giới không chỉ cần những công trình của người thánh hiến. Thế giới cần nhìn thấy nơi họ một cách sống khác: những con người rất khác nhau vẫn có thể sống bên nhau, tha thứ cho nhau, tôn trọng nhau và cùng nhau phục vụ một sứ mạng lớn hơn cái tôi của mình.
Chúa Giêsu không nói rằng người ta sẽ nhận biết các môn đệ của Người vì họ tổ chức giỏi, xây dựng nhiều hay nói hay. Người nói: “Mọi người sẽ nhận biết anh em là môn đệ Thầy ở điểm này: là anh em có lòng yêu thương nhau.” Tình huynh đệ không phải là một phần phụ của sứ mạng. Tình huynh đệ chính là sứ mạng. Cách người thánh hiến đối xử với nhau là bài giảng đầu tiên và cũng là bài giảng khó giả tạo nhất.
Một linh mục, tu sĩ có thể giảng rất cảm động về tha thứ nhưng không nói chuyện với người anh em cùng nhà. Có thể hướng dẫn người khác hòa giải gia đình nhưng trong cộng đoàn lại giữ khoảng cách nhiều năm. Có thể mời gọi giáo dân sống hiệp nhất nhưng bản thân chỉ ngồi với những người cùng nhóm. Có thể nói về tình yêu phổ quát của Thiên Chúa nhưng lại có danh sách những người mình không muốn gặp. Sự mâu thuẫn ấy làm cho lời giảng mất sức thuyết phục, dù người nghe không biết rõ những gì đang xảy ra bên trong cộng đoàn.
Phe nhóm còn gây đau đớn đặc biệt cho những người không thuộc nhóm nào. Trong một cộng đoàn bị chia thành nhiều vòng tròn, có những người sống âm thầm, không muốn theo phe, không thích nói xấu, không tìm ảnh hưởng. Nhưng chính họ có thể trở thành người cô độc nhất. Nhóm này nghi họ thuộc nhóm kia. Nhóm kia nghi họ thân với nhóm khác. Vì không tham gia những cuộc trò chuyện riêng, họ thiếu thông tin. Vì không biết vận động, họ dễ bị bỏ qua. Vì không có người bảo vệ, lỗi lầm nhỏ của họ có thể bị phóng đại.
Đau hơn nữa là những người trẻ mới bước vào đời tu có thể sớm bị kéo vào phe nhóm. Họ chưa đủ kinh nghiệm để phân định. Họ cần được yêu thương, nâng đỡ và công nhận. Khi một nhóm dành cho họ sự quan tâm đặc biệt, họ dễ cảm thấy biết ơn và trung thành. Dần dần, họ tiếp nhận luôn cả những định kiến của nhóm ấy. Họ được kể cho nghe những câu chuyện cũ, được giải thích ai là người tốt, ai là người cần dè chừng, ai thuộc “phía chúng ta” và ai không đáng tin. Trước khi có cơ hội tự mình gặp gỡ và nhận định, họ đã nhìn cộng đoàn qua đôi mắt của người khác.
Đó là một hình thức làm tổn thương ơn gọi. Người trẻ bước vào nhà dòng để học thuộc về Đức Kitô, nhưng lại bị lôi kéo để thuộc về một nhóm. Họ được mời gọi sống tự do trong Thánh Thần, nhưng lại bị trói buộc trong những mối trung thành cá nhân. Họ cần được đào tạo để biết phân định, nhưng lại được dạy cách nhìn người theo phe. Họ chưa kịp xây dựng tình huynh đệ với mọi người thì đã được trao cho một danh sách những người cần tránh.
Người trưởng thành trong đời tu không dùng người trẻ để tăng sức mạnh cho mình. Không gieo vào lòng người trẻ những thành kiến của quá khứ. Không biến sự tin tưởng của họ thành công cụ trong những cuộc tranh chấp. Người trưởng thành giúp người trẻ gặp gỡ mọi người bằng ánh mắt trong sáng, khuyến khích họ suy nghĩ độc lập, cầu nguyện và tự mình phân định. Người trưởng thành không cần người trẻ đứng về phía mình; họ chỉ mong người trẻ đứng về phía Đức Kitô.
Căn bệnh phe nhóm không chỉ thể hiện qua việc nói xấu hay liên minh công khai. Nó còn có những hình thức rất tinh tế: chỉ mời một số người tham gia những dịp quan trọng; chỉ chia sẻ thông tin với một nhóm; thường xuyên dùng những câu chuyện riêng để tạo cảm giác thân mật; trao cơ hội cho người thân cận; bỏ qua đóng góp của người khác; khen ngợi nhóm mình trước mặt mọi người; im lặng trước sai phạm của người mình quý; nghiêm khắc quá mức với người mình không thích; dùng sự lạnh nhạt để trừng phạt; cố ý không chào hỏi; không trả lời tin nhắn; loại người khác khỏi các cuộc trao đổi; làm cho một người cảm thấy mình không thuộc về cộng đoàn.
Có những vết thương không đến từ một lời xúc phạm lớn, nhưng từ hàng trăm cử chỉ nhỏ của sự loại trừ. Một chỗ ngồi luôn được dành cho những người thân. Một cuộc trò chuyện bỗng im bặt khi ai đó bước vào. Một chuyến đi chỉ có những gương mặt quen thuộc. Một thông tin mọi người đều biết trừ một người. Một quyết định liên quan đến ai đó nhưng người ấy không được tham khảo. Một nụ cười dành cho nhóm này và khuôn mặt lạnh lùng dành cho nhóm kia. Mỗi điều xem ra rất nhỏ, nhưng khi lặp lại lâu ngày, nó nói với một người rằng: “Bạn không thuộc về nơi này.”
Đời thánh hiến sẽ trở nên nặng nề biết bao khi người ta phải sống trong một mái nhà nhưng luôn cảm thấy mình là người ngoài. Người ta vẫn thực hiện bổn phận, nhưng trái tim khép lại. Người ta vẫn cầu nguyện, nhưng trong lòng chất chứa buồn tủi. Người ta vẫn mỉm cười, nhưng đêm về lại khóc vì cô đơn. Người ta không dám nói, vì sợ bị xem là nhạy cảm, yếu đuối hay gây chia rẽ. Cứ thế, một ơn gọi có thể héo mòn không phải vì thiếu lòng yêu Chúa, nhưng vì thiếu một nơi để được sống như người anh chị em.
Khi một thành viên rời cộng đoàn, khủng hoảng ơn gọi hoặc xin ra khỏi Hội Dòng, người ta thường tìm nguyên nhân nơi cá nhân ấy. Có thể họ thiếu trưởng thành. Có thể họ không đủ trung thành. Có thể họ chưa có đời sống thiêng liêng vững vàng. Những điều ấy đôi khi đúng. Nhưng cộng đoàn cũng cần can đảm tự hỏi: người ấy đã được yêu thương chưa? Họ đã có chỗ trong bàn ăn, trong cuộc trò chuyện, trong sự quan tâm của chúng ta chưa? Hay họ đã sống quá lâu giữa chúng ta mà vẫn cảm thấy mình không thuộc về?
Không phải mọi cuộc ra đi đều do phe nhóm, nhưng phe nhóm có thể làm cho người yếu trở nên yếu hơn, người cô đơn trở nên cô đơn hơn, người tổn thương mất dần hy vọng. Có những người không cần cộng đoàn giải quyết mọi vấn đề cho mình. Họ chỉ cần biết rằng có người lắng nghe mà không phán xét, có người nhìn họ như một người anh em chứ không như một mối phiền toái, có người dám ngồi bên họ mà không sợ bị nhóm khác hiểu lầm.
Một cộng đoàn thật sự lành mạnh không phải là cộng đoàn không có khác biệt hay xung đột. Nơi nào có con người, nơi đó có giới hạn, hiểu lầm và va chạm. Cộng đoàn lành mạnh là cộng đoàn biết đưa khác biệt ra ánh sáng, biết nói sự thật trong đức ái, biết nhận lỗi, biết tha thứ và bắt đầu lại. Ngược lại, cộng đoàn bệnh không phải vì có vấn đề, nhưng vì vấn đề không được đối diện cách trưởng thành. Người ta không nói với nhau mà nói về nhau. Không giải quyết sự việc mà tích lũy hồ sơ. Không tìm hiểu mà suy đoán. Không đối thoại mà vận động.
Muốn chữa căn bệnh phe nhóm, trước hết mỗi người phải đủ khiêm tốn để xét mình. Thật dễ nhìn thấy phe nhóm nơi người khác, nhưng rất khó nhận ra những liên minh nhỏ trong lòng mình. Ta cần tự hỏi: Tôi có đối xử với mọi người công bằng không? Tôi có dễ tha thứ cho người thân với mình nhưng khắt khe với người khác không? Tôi có chia sẻ những thông tin không cần thiết về người vắng mặt không? Tôi có tìm người đồng tình với mình mỗi khi bị tổn thương không? Tôi có vui khi người mình không thích thất bại không? Tôi có khó chịu khi họ thành công không? Tôi có âm thầm chia cộng đoàn thành người tốt và người xấu, người của chúng ta và người của họ không?
Ta cũng cần hỏi: Có ai trong cộng đoàn mà tôi đã lâu không chủ động nói chuyện không? Có ai tôi chỉ nhìn qua lỗi lầm cũ? Có ai tôi đã kết luận mà chưa bao giờ thật sự lắng nghe? Có ai tôi đang tránh né không phải vì cần thận trọng, nhưng vì lòng tự ái? Có ai tôi đã biến thành đề tài trong những cuộc trò chuyện thân mật? Có bao giờ tôi dùng danh nghĩa “chia sẻ” để nói những điều mình không dám nói trước mặt người ấy?
Những câu hỏi ấy có thể làm ta đau. Nhưng không có sự chữa lành nào nếu không có sự thật. Ta thường thích nghĩ mình là nạn nhân của phe nhóm, nhưng có thể chính ta cũng đang góp phần tạo nên nó. Có thể ta không lập phe công khai, nhưng sự im lặng của ta trước lời nói xấu đã nuôi dưỡng phe nhóm. Có thể ta không loại trừ ai, nhưng ta chỉ giao tiếp với những người mình thích. Có thể ta không nói dối, nhưng ta chỉ kể một phần sự thật có lợi cho mình. Có thể ta không chống đối bề trên, nhưng ta âm thầm làm cho người khác mất lòng tin vào bề trên qua những lời gợi ý và ám chỉ.
Mỗi lời nói đều có thể xây một nhịp cầu hoặc dựng một bức tường. Mỗi lần ta kể một câu chuyện về người vắng mặt, ta đang đặt một viên gạch vào hình ảnh của họ trong lòng người nghe. Nếu câu chuyện thiếu công bằng, ta không chỉ làm tổn thương danh dự của họ, mà còn làm nhiễm độc tương quan giữa họ với người khác. Đến khi người ấy bước vào phòng, họ không biết rằng mình đang bị nhìn qua một câu chuyện mà họ chưa từng được nghe.
Có những người nói: “Tôi chỉ nói sự thật.” Nhưng không phải mọi sự thật đều cần được kể cho mọi người. Sự thật không có bác ái có thể trở thành vũ khí. Một lỗi lầm đã được người khác hối cải không cần bị nhắc lại để làm giảm uy tín của họ. Một thông tin riêng tư không được phép biến thành chủ đề mua vui. Một nhận xét cá nhân không thể được trình bày như chân lý tuyệt đối. Tôn trọng danh dự người khác là một phần của đức công bằng.
Chữa căn bệnh phe nhóm đòi phải khôi phục nghệ thuật đối thoại trực tiếp. Nếu người anh em làm ta tổn thương, hãy cầu nguyện trước, rồi tìm thời điểm thích hợp để gặp họ. Hãy nói về điều đã xảy ra, đừng kết án con người. Hãy nói: “Khi điều ấy xảy ra, tôi cảm thấy bị tổn thương,” thay vì nói: “Anh lúc nào cũng ích kỷ.” Hãy lắng nghe câu chuyện của họ. Có thể ta chỉ biết một phần. Có thể họ không có ý như ta nghĩ. Có thể chính ta cũng đã góp phần gây ra vấn đề.
Đối thoại không bảo đảm rằng mọi khác biệt sẽ biến mất. Nhưng đối thoại giúp ta gặp một con người thật thay vì hình ảnh do tưởng tượng tạo ra. Có khi sau cuộc nói chuyện, hai người vẫn chưa đồng ý, nhưng họ hiểu nhau hơn và thôi coi nhau như kẻ thù. Trong đời sống cộng đoàn, không nhất thiết mọi người phải có cùng quan điểm, nhưng mọi người cần học cách bất đồng mà vẫn tôn trọng nhau.
Chữa lành cũng đòi phải học nói tốt về người vắng mặt. Điều này nghe có vẻ đơn giản nhưng lại là một thực hành thiêng liêng mạnh mẽ. Khi trong một cuộc trò chuyện, ai đó bắt đầu nói xấu, ta có thể nhẹ nhàng nhắc đến một điểm tốt của người đang bị nói đến. Ta có thể hỏi: “Chúng ta đã nghe trực tiếp từ họ chưa?” Ta có thể từ chối tham gia vào việc suy diễn. Ta có thể chuyển câu chuyện sang hướng xây dựng hơn. Đôi khi chỉ một người không hùa theo cũng đủ làm dừng lại một chuỗi lời nói gây tổn thương.
Cũng cần tạo ra những không gian cộng đoàn nơi mọi người có cơ hội gặp gỡ vượt khỏi những nhóm quen thuộc. Không phải chỉ tổ chức thêm hoạt động, nhưng tạo cơ hội để người ta thật sự nghe nhau: những buổi chia sẻ đời sống, những cuộc gặp không chỉ nói về công việc, những bữa ăn có sự hiện diện trọn vẹn, những lúc cầu nguyện cho nhau, những dịp kể lại câu chuyện ơn gọi, những cuộc thăm hỏi người đau yếu, những khoảnh khắc cùng nhau phục vụ người nghèo.
Khi cùng đứng trước nỗi đau của người nghèo, nhiều tranh chấp nhỏ trong cộng đoàn trở nên bé lại. Khi cùng quỳ trước Thánh Thể, ta nhớ rằng không ai là trung tâm ngoài Đức Kitô. Khi cùng nghe Lời Chúa, ta nhận ra mình đều là người cần được hoán cải. Khi cùng nhìn lại ơn gọi ban đầu, ta nhớ rằng không ai vào nhà dòng để tìm phe cánh, quyền lực hay ảnh hưởng. Ta đã vào vì một tiếng gọi, vì một tình yêu, vì khát vọng trao đời mình cho Chúa và phục vụ con người.
Căn bệnh phe nhóm chỉ có thể được chữa tận gốc khi Đức Kitô trở lại vị trí trung tâm. Bao lâu một cá nhân, một nhóm, một thế hệ, một quan điểm hay một công việc trở thành trung tâm, cộng đoàn sẽ bị phân mảnh. Chỉ Đức Kitô mới có thể quy tụ những người khác nhau mà không xóa bỏ sự khác biệt. Chỉ trong Người, người trẻ và người già, người mạnh và người yếu, người học cao và người ít học, người giữ trách nhiệm và người sống âm thầm mới nhận ra mình là chi thể của cùng một thân thể.
Thánh Phaolô đã đau đớn khi cộng đoàn Côrintô chia phe: người thì nói mình thuộc về Phaolô, người thuộc về Apôlô, người thuộc về Kêpha. Ngài đặt câu hỏi: “Đức Kitô đã bị chia năm xẻ bảy rồi sao?” Câu hỏi ấy vẫn vang lên trong mỗi cộng đoàn thánh hiến. Đức Kitô có bị chia cắt bởi những nhóm của chúng ta không? Thân thể Người có bị tổn thương bởi những mối liên minh, những lời nói sau lưng, những định kiến và cuộc tranh giành ảnh hưởng của chúng ta không?
Mỗi khi ta nói “người của chúng ta” và “người của họ”, ta cần nhớ rằng tất cả đều là người của Đức Kitô. Mỗi khi ta muốn người khác thất bại để chứng minh nhóm mình đúng, ta cần nhớ người ấy cũng là chi thể trong cùng một thân thể. Khi một chi thể bị tổn thương, cả thân thể cùng đau. Không ai thật sự chiến thắng khi một cộng đoàn bị chia rẽ. Một nhóm có thể thắng một cuộc tranh luận, giữ được vị trí, bảo vệ được ảnh hưởng, nhưng nếu tình huynh đệ bị phá vỡ thì mọi người đều thất bại.
Chúa Giêsu đã chọn một nhóm môn đệ rất khác nhau. Trong số ấy có người thu thuế từng cộng tác với quyền lực Rôma và có người nhiệt thành từng chống lại Rôma. Theo lẽ thường, họ khó có thể ngồi chung một bàn. Nhưng Chúa không chọn họ vì họ hợp nhau. Người chọn họ để họ học thuộc về Người. Trung tâm của nhóm Mười Hai không phải là sự tương đồng giữa họ, nhưng là chính Đức Giêsu.
Cộng đoàn thánh hiến cũng thế. Điều nối kết chúng ta không phải là sở thích, vùng miền, tuổi tác, học vấn hay quan điểm mục vụ. Điều nối kết chúng ta là một tiếng gọi chung. Khi quên tiếng gọi ấy, ta bắt đầu tìm những căn tính thay thế. Ta tự định nghĩa mình bằng nhóm, bằng vai trò, bằng công việc, bằng thế hệ. Nhưng khi trở về với Đức Kitô, ta nhớ mình trước hết là người được yêu, được gọi và được sai đi.
Điều đó không có nghĩa là cộng đoàn phải xóa bỏ mọi tình bạn riêng. Một đời sống không có tình bạn sẽ trở nên lạnh lẽo. Chúa Giêsu cũng có những tương quan thân thiết đặc biệt. Nhưng tình bạn trong đời tu phải có tính mở. Nó làm người ta nhân ái hơn với mọi người, chứ không khép lại. Nó giúp hai người cùng lớn lên trong Chúa, chứ không lệ thuộc nhau. Nó đủ tự do để đón nhận người thứ ba, đủ trưởng thành để nói sự thật, đủ khiêm tốn để không xem mối quan hệ của mình quan trọng hơn lợi ích cộng đoàn.
Một tình bạn tốt làm cho cộng đoàn phong phú. Một phe nhóm làm cho cộng đoàn nghèo đi. Tình bạn tốt tạo thêm những nhịp cầu. Phe nhóm xây những bức tường. Tình bạn tốt giúp người ta tự do hơn. Phe nhóm đòi hỏi sự trung thành mù quáng. Tình bạn tốt có thể chịu được sự khác biệt. Phe nhóm xem bất đồng là phản bội. Tình bạn tốt hướng hai người về Chúa. Phe nhóm đặt nhóm mình vào trung tâm.
Để chữa lành, có khi cần những lời xin lỗi cụ thể. Không chỉ nói chung chung: “Nếu tôi có làm ai buồn thì xin lỗi.” Một lời xin lỗi trưởng thành cần gọi đúng điều mình đã làm: “Tôi đã kể chuyện của anh cho người khác.” “Tôi đã có định kiến với chị.” “Tôi đã không công bằng.” “Tôi đã im lặng khi người ta nói xấu anh.” “Tôi đã loại chị ra khỏi cuộc trao đổi.” “Tôi đã bảo vệ người thân với mình dù biết họ sai.” Chỉ khi gọi tên sự thật, lời xin lỗi mới có sức chữa lành.
Cũng cần có những sự sửa đổi cụ thể. Nếu đã làm tổn thương danh dự người khác trước nhiều người, đôi khi xin lỗi riêng chưa đủ; ta cần đính chính với những người đã nghe. Nếu đã tạo ra thói quen chỉ gặp một nhóm, ta cần chủ động mở rộng tương quan. Nếu đã dùng quyền hạn để ưu ái, ta cần thiết lập những nguyên tắc công bằng và minh bạch. Nếu đã giữ trong lòng một hồ sơ về người khác, ta cần quyết định không sử dụng quá khứ của họ để phán xét hiện tại.
Tha thứ cũng là một phần không thể thiếu. Có người nhận ra mình bị phe nhóm làm tổn thương và chờ người khác thay đổi trước. Nhưng chờ đợi ấy có thể kéo dài nhiều năm. Tha thứ không có nghĩa là phủ nhận điều xấu, không cần công lý hay tiếp tục để người khác lạm dụng mình. Tha thứ là từ chối để vết thương quyết định con người mình. Là đặt quyền xét xử cuối cùng vào tay Thiên Chúa. Là không tiếp tục trả lại điều xấu bằng điều xấu. Là cầu xin Chúa giải thoát mình khỏi sự cay đắng.
Có những vết thương cần thời gian dài để chữa lành. Không phải cứ nói tha thứ là cảm xúc lập tức bình an. Nhưng mỗi ngày, ta có thể chọn không nuôi hận thù. Chọn không kể lại câu chuyện theo cách làm mình cay đắng hơn. Chọn không vui trước thất bại của người đã làm đau mình. Chọn cầu nguyện cho họ, dù ban đầu lời cầu nguyện còn khô khan. Chọn để Thiên Chúa từng bước làm mềm trái tim.
Đối với người đang giữ trách nhiệm, chữa phe nhóm đòi sự công bằng, minh bạch và khả năng tự kiểm tra. Bề trên cần tự hỏi: Tôi đang nghe ai nhiều nhất? Có những người nào tôi hầu như không bao giờ hỏi ý kiến? Những người thân cận với tôi có đang nhận quá nhiều cơ hội không? Tôi có vô thức trừng phạt người bất đồng bằng cách không giao việc, không chia sẻ thông tin hay giữ khoảng cách không? Cộng đoàn có thể góp ý cho tôi mà không sợ hậu quả không?
Một nhà lãnh đạo khôn ngoan không chỉ xây dựng mối quan hệ với những người dễ cộng tác. Người ấy dành thời gian cho người ít nói, người hay bị hiểu lầm, người không có ảnh hưởng. Người ấy không để thông tin quan trọng trở thành đặc quyền của một vòng tròn. Người ấy giải thích quyết định khi thích hợp, tránh sự mập mờ làm phát sinh nghi ngờ. Khi có xung đột, người ấy lắng nghe nhiều phía thay vì tin ngay câu chuyện của người thân cận.
Người lãnh đạo cũng cần có những người đủ tự do để nói thật với mình. Không phải một nhóm trung thành, nhưng những người khôn ngoan, cầu nguyện và không tìm lợi ích. Nếu quanh một bề trên chỉ còn những tiếng nói khen ngợi, đó là một dấu hiệu nguy hiểm. Không ai đủ sáng suốt để không cần được góp ý. Quyền lực càng lớn, con người càng dễ bị cô lập trong những điều mình muốn nghe.
Về phía mỗi thành viên, đức vâng phục không được biến thành công cụ của phe nhóm. Vâng phục không có nghĩa là bảo vệ mọi quyết định của bề trên, cũng không có nghĩa là chống lại mọi người góp ý. Vâng phục đích thực là cùng tìm ý Chúa trong cơ cấu của Hội Dòng, với sự ngay thẳng và tự do nội tâm. Có khi vâng phục đòi ta từ bỏ quan điểm riêng. Có khi vâng phục đòi ta can đảm trình bày một sự thật khó nghe bằng thái độ khiêm tốn. Nhưng không bao giờ vâng phục cho phép ta vu khống, thao túng hoặc chia rẽ cộng đoàn.
Đời sống cầu nguyện là nơi căn bệnh phe nhóm được phơi bày rõ nhất. Ta không thể thật sự đứng trước Thiên Chúa mà mãi nuôi sự khinh miệt một người anh em. Ta có thể đọc kinh rất nhiều, nhưng nếu lời cầu nguyện không làm ánh mắt ta dịu lại, không giúp ta bớt phán xét, không dẫn ta đến hòa giải, thì ta cần tự hỏi mình đang gặp Chúa hay chỉ đang gặp chính mình.
Thánh Thể là lời chất vấn mạnh mẽ đối với mọi phe nhóm. Chúng ta cùng nhận một tấm bánh, cùng uống một chén, cùng trở thành một thân thể. Không thể có Thánh Thể thật sự mà lại chấp nhận sự chia cắt như một điều bình thường. Mỗi lần tiến lên rước lễ, ta đang tuyên xưng rằng người anh em mình không ưa cũng thuộc về cùng một thân thể với mình. Ta không thể yêu Đầu là Đức Kitô mà khinh thường một chi thể của Người.
Có khi trước khi dâng của lễ, điều Chúa chờ không phải là thêm một giờ kinh, nhưng là một bước chân đi về phía người anh em. Có khi hy sinh đẹp nhất không phải là nhận thêm một công việc, nhưng là từ bỏ nhu cầu phải thắng. Có khi việc đền tội cần thiết nhất không phải là bớt một bữa ăn, nhưng là ngừng một câu chuyện gây chia rẽ. Có khi hành vi thờ phượng chân thật nhất là dám nhận rằng người mình chống đối cũng có phần đúng.
Căn bệnh phe nhóm không được chữa bằng những khẩu hiệu hiệp nhất. Người ta có thể treo những câu rất đẹp về tình huynh đệ mà vẫn sống xa nhau. Chữa lành bắt đầu từ những lựa chọn nhỏ mỗi ngày: ngồi cạnh người mình ít gần gũi; hỏi thăm người thường bị bỏ quên; lắng nghe mà không ngắt lời; không chuyển tiếp một tin nhắn gây bất hòa; không tham gia một cuộc trò chuyện nói xấu; nhìn nhận thành công của người mình từng ganh tị; bảo vệ người vắng mặt; cảm ơn đóng góp của người khác; xin lỗi khi mình sai.
Những điều ấy nhỏ bé, nhưng Nước Thiên Chúa thường bắt đầu từ những hạt giống nhỏ. Một cộng đoàn không thay đổi chỉ nhờ một văn kiện hay một cuộc họp. Nó thay đổi khi từng người để cho Chúa thay đổi trái tim mình. Khi một người thôi nói xấu, một mắt xích của phe nhóm bị đứt. Khi một người dám đối thoại trực tiếp, một cánh cửa hòa giải được mở. Khi một bề trên lắng nghe người ngoài vòng thân cận, một tín hiệu hy vọng xuất hiện. Khi một người trẻ từ chối tiếp nhận định kiến về người khác, quá khứ không còn tiếp tục thống trị tương lai.
Có thể chúng ta không đủ sức chữa mọi chia rẽ trong cộng đoàn. Có những vấn đề đã kéo dài nhiều năm, có những vết thương rất sâu, có những con người chưa sẵn sàng thay đổi. Nhưng ta vẫn có thể quyết định không để căn bệnh đi qua mình mà lan rộng thêm. Ta không kiểm soát được lời người khác nói, nhưng kiểm soát được việc mình có tiếp tục kể lại hay không. Ta không buộc người khác yêu mình, nhưng có thể chọn không đáp lại sự lạnh lùng bằng lạnh lùng. Ta không thể làm mọi người hiệp nhất ngay lập tức, nhưng có thể trở thành một người không tạo thêm chia rẽ.
Có khi lòng trung thành với Tin Mừng khiến ta trở nên cô độc. Khi không chịu đứng về phe nào, ta có thể bị cả hai phía nghi ngờ. Khi nói sự thật với nhóm mình, ta có thể bị xem là phản bội. Khi bảo vệ người bị nói xấu, ta có thể mất sự thân thiện của một số người. Nhưng người thánh hiến không được gọi để tìm sự an toàn trong phe nhóm. Người thánh hiến được gọi để đứng dưới chân thập giá, nơi Đức Kitô dang tay ôm lấy cả những người đóng đinh Người.
Thập giá là sự phá đổ mọi bức tường. Trên thập giá, Chúa Giêsu không chết cho một phe. Người hiến mạng sống cho tất cả. Người không chỉ yêu những môn đệ trung thành, nhưng còn cầu nguyện cho những người bách hại mình. Người không xây dựng một nhóm để chống lại nhóm khác. Người trao ban chính mình để “quy tụ con cái Thiên Chúa đang tản mác khắp nơi về một mối”.
Một đời thánh hiến mang hình thập giá phải là một đời sống quy tụ, không phải phân tán; chữa lành, không phải làm sâu thêm vết thương; mở cửa, không phải dựng tường; xây cầu, không phải đào hào. Người thánh hiến phải là người mà khi họ xuất hiện, người khác cảm thấy an toàn để đến gần nhau hơn, chứ không bị kéo vào những cuộc đối đầu.
Có những người mang trong mình một khả năng kỳ lạ: đi đến đâu cũng nối kết được người khác. Họ không nói nhiều về hiệp nhất, nhưng sự hiện diện của họ tạo ra hiệp nhất. Họ biết lắng nghe nhiều phía mà không biến mình thành nơi thu gom chuyện xấu. Họ không thiên vị, không vội kết luận. Họ đủ gần gũi để người khác tin tưởng và đủ tự do để không bị bất cứ nhóm nào sở hữu. Họ nhìn ra điều tốt nơi mỗi người và giúp những người khác cũng nhìn thấy điều tốt ấy.
Đó là những con người cộng đoàn rất cần. Không nhất thiết họ giữ chức vụ lớn. Có khi chỉ là một người âm thầm, hiền lành, biết cầu nguyện. Nhưng bằng sự công bằng, lòng nhân hậu và lời nói có trách nhiệm, họ trở thành men hiệp nhất. Họ không để người này nói xấu người kia trước mặt mình. Họ không mang câu chuyện từ phòng này sang phòng khác. Họ không lợi dụng sự tin tưởng để xây ảnh hưởng. Họ giữ kín điều cần giữ, nói điều cần nói và im lặng khi sự im lặng bảo vệ tình huynh đệ.
Mỗi người thánh hiến được mời gọi trở thành con người như thế. Không cần chờ cộng đoàn hoàn hảo. Không cần đợi người khác thay đổi trước. Ta có thể bắt đầu từ chính mình. Bắt đầu bằng cách nhìn lại vòng tròn tương quan của mình. Bắt đầu bằng một cuộc gặp mà ta đã trì hoãn. Bắt đầu bằng một lời xin lỗi. Bắt đầu bằng việc xóa đi một tin nhắn định gửi. Bắt đầu bằng việc cầu nguyện cho người mình khó chấp nhận. Bắt đầu bằng cách nhìn người ấy như Chúa đang nhìn họ.
Có lẽ điều khó nhất là chấp nhận rằng người ta không hoàn toàn xấu và ta không hoàn toàn đúng. Trong mọi xung đột, ta thường nhớ rõ những gì người khác đã làm, nhưng quên những gì mình đã góp phần. Ân sủng của Thiên Chúa không chỉ giúp ta tha thứ cho người khác; ân sủng còn giúp ta đủ khiêm tốn để thấy mình cũng cần được tha thứ.
Khi ta nhận ra mình cũng yếu đuối, ánh mắt ta sẽ bớt khắt khe. Khi nhớ mình đã bao lần được Chúa kiên nhẫn, ta sẽ kiên nhẫn hơn với người khác. Khi hiểu rằng mình sống được đến hôm nay không phải vì hoàn hảo nhưng nhờ lòng thương xót, ta sẽ không dễ biến lỗi lầm của người khác thành bản án vĩnh viễn.
Cộng đoàn thánh hiến không phải là nơi những người hoàn hảo cùng sống. Đó là nơi những tội nhân đã được tha thứ học cách tha thứ cho nhau; nơi những con người bị tổn thương học cách không làm tổn thương nhau; nơi những người khác biệt học cách cùng nhìn về một hướng; nơi mỗi người chết đi từng ngày cho cái tôi để Đức Kitô lớn lên.
Căn bệnh phe nhóm sẽ không biến mất chỉ nhờ thời gian. Nếu không được đối diện, nó có thể truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác. Những người trẻ hôm nay nghe các câu chuyện chia rẽ của người đi trước, rồi mai này lại kể cho thế hệ sau. Những bất đồng ban đầu có thể đã mất ý nghĩa, nhưng thái độ thù nghịch vẫn còn. Người ta không còn nhớ rõ tại sao hai bên xa nhau, chỉ biết rằng “từ trước đến giờ vẫn vậy”.
Đã đến lúc phải dừng lại. Không phải để phủ nhận quá khứ, nhưng để quá khứ không tiếp tục cai trị hiện tại. Có thể chúng ta không sửa được những gì đã xảy ra, nhưng có thể quyết định không truyền lại vết thương. Có thể ta đã được dạy phải dè chừng một người, nhưng ta có thể tự mình gặp họ. Có thể ta đã nghe nhiều câu chuyện, nhưng có thể chọn không kết luận khi chưa biết sự thật. Có thể ta thuộc một thế hệ từng bị tổn thương, nhưng không nhất thiết phải làm tổn thương thế hệ tiếp theo.

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét