PHỤNG VỤ LỜI CHÚA - CHÚA NHẬT III THƯỜNG NIÊN NĂM A. Xin xem bài chia sẻ bên dưới của Lm Antôn.M Vũ Quốc Thịnh,CSsR.
BẢN VĂN CÁC BÀI ĐỌC – Nguồn: UBPT/HĐGMVN ấn bản năm 1973
BÀI ÐỌC I: Is 9, 1- 4 (Hr 8, 23b – 9, 3)
“Tại Galilêa các dân tộc và dân chúng thấy một ánh sáng vĩ đại”.
Trích sách Tiên tri Isaia.
Lúc đầu, đất Giabulon và Nephthali rất hèn hạ, trong tương lai dần dần trở thành đường biển, bên kia sông Giođan trở thành Galilêa các dân tộc. Dân chúng đi trong tối tăm đã thấy một ánh sáng vĩ đại, và một ánh sáng đã chiếu soi trên dân ở vùng bóng sự chết. Người đã gia tăng dân số, đã ban một nguồn vui lớn; thiên hạ hân hoan trước mặt Người, như hân hoan khi được mùa, nhảy mừng như khi phân chia chiến lợi phẩm. Vì ách đã đè trên họ, đòn ngang nằm trên vai họ, và gậy của kẻ lạm thu họ, Người đã bẻ gẫy tất cả như trong ngày Mađian.
Ðó là lời Chúa.
ÐÁP CA: Tv 26, 1. 4. 13-14
Ðáp: Chúa là sự sáng và là Ðấng cứu độ tôi (c. 1a).
Xướng: Chúa là sự sáng, là Ðấng cứu độ; tôi sợ chi ai? Chúa là Ðấng phù trợ đời tôi, tôi sợ gì ai?
Xướng: Có một điều tôi xin Chúa, một điều tôi kiếm tìm, đó là tôi được cư ngụ trong nhà Chúa suốt đời tôi, hầu vui hưởng sự êm đềm của Chúa, và chiêm ngưỡng thánh điện của Người.
Xướng: Tôi tin rằng tôi sẽ được nhìn xem những ơn lành của Chúa trong cõi nhân sinh. Hãy chờ đợi Chúa, hãy sống can trường, hãy phấn khởi tâm hồn và chờ đợi Chúa.
BÀI ÐỌC II: 1 Cr 1, 10-13. 17
“Tất cả anh em hãy đồng tâm hợp ý với nhau, và giữa anh em, đừng có chia rẽ”.
Trích thư thứ nhất của Thánh Phaolô Tông đồ gửi tín hữu Côrintô.
Anh em thân mến, nhân danh Ðức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta, tôi xin anh em tất cả hãy đồng tâm hiệp ý với nhau, giữa anh em đừng có chia rẽ; hãy đoàn kết chặt chẽ trong cùng một thần khí và cùng một tâm tình. Anh em thân mến, tôi đã được các người nhà Khloê cho hay rằng: giữa anh em đang có những sự bất đồng. Tôi có ý nói điều này, là mỗi người trong anh em nói: “Tôi, tôi thuộc về Phaolô; – “Tôi về phe Apollô”; – “Còn tôi, tôi về phe Kêpha”; – “Và tôi thuộc về phe Chúa Kitô”. Chúa Kitô bị phân chia rồi sao? Có phải Phaolô đã chịu đóng đinh vì anh em đâu? Hay là nhân danh Phaolô mà anh em chịu phép rửa? Ðức Kitô không sai tôi đi rửa tội, mà là đi rao giảng Tin Mừng, không phải bằng lời nói khôn khéo, kẻo thập giá của Ðức Kitô ra hư không.
Ðó là lời Chúa.
ALLELUIA: Mt 4, 23
Alleluia, alleluia! – Chúa Giêsu rao giảng Tin Mừng nước Trời, và chữa lành mọi bệnh hoạn tật nguyền trong dân. – Alleluia.
PHÚC ÂM: Mt 4, 12-23 (bài dài)
“Người vào Capharnaum để ứng nghiệm lời tiên tri Isaia đã tiên báo”.
Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Matthêu.
Khi ấy, nghe tin Gioan bị nộp, Chúa Giêsu lui về Galilêa. Người rời bỏ thành Nadarét, đến ở miền duyên hải, thành Capharnaum, giáp ranh đất Giabulon và Nepthali, để ứng nghiệm lời đã phán bởi miệng tiên tri Isaia rằng: “Hỡi đất Giabulon và đất Nepthali, đường dọc theo biển, bên kia sông Giođan, Galilêa của ngoại bang! Dân ngồi trong tối tăm đã thấy ánh sáng huy hoàng; ánh sáng đã xuất hiện cho người ngồi trong bóng sự chết”.
Từ bấy giờ, Chúa Giêsu bắt đầu rao giảng và nói: “Hãy hối cải, vì nước trời đã gần đến!”
Nhân lúc Chúa Giêsu đi dọc theo bờ biển Galilêa, Người thấy hai anh em là Simon, cũng gọi là Phêrô, và Anrê, em ông, cả hai đang thả lưới dưới biển, vì hai ông là ngư phủ. Người bảo hai ông rằng: “Các ngươi hãy theo Ta, Ta sẽ làm cho các ngươi trở thành những ngư phủ lưới người ta”. Lập tức hai ông bỏ lưới đó mà theo Người. Ði xa hơn một đỗi, Người lại thấy hai anh em khác là Giacôbê con ông Giêbêđê, và Gioan em ông đang vá lưới trong thuyền với cha là Giêbêđê. Người cũng gọi hai ông. Lập tức hai ông bỏ lưới và cha mình mà đi theo Người.
Và Chúa Giêsu đi rảo quanh khắp xứ Galilêa, dạy dỗ trong các hội đường của họ, rao giảng tin mừng nước trời, chữa lành mọi bệnh hoạn tật nguyền trong dân.
Ðó là lời Chúa.
Hoặc đọc bài vắn này: Mt 4, 12-17
“Người vào Capharnaum để ứng nghiệm lời tiên tri Isaia đã tiên báo”.
Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Matthêu.
Khi ấy, nghe tin Gioan bị nộp, Chúa Giêsu lui về Galilêa. Người rời bỏ thành Nadarét, đến ở miền duyên hải thành Capharnaum, giáp ranh đất Giabulon và Nepthali, để ứng nghiệm lời đã phán bởi miệng tiên tri Isaia rằng: “Hỡi đất Giabulon và đất Nepthali, đường dọc theo biển, bên kia sông Giođan, Galilêa của ngoại bang! Dân ngồi trong tối tăm, đã thấy ánh sáng huy hoàng, ánh sáng đã xuất hiện cho người ngồi trong bóng sự chết”. Từ bấy giờ, Chúa Giêsu bắt đầu rao giảng và nói: “Hãy hối cải, vì nước trời đã gần đến”.
Ðó là lời Chúa.

Buông theo Thần Khí – Huệ Minh
Tin mừng Mt 4: 12-23 Ngay khi bắt đầu sứ vụ công khai, Đức Giêsu đã kêu gọi các môn đệ đầu tiên.
Chúa Giêsu bắt đầu sứ vụ công khai tại miền Galilê. Sau khi chịu Phép Rửa của ông Gioan tại sông Giođan (Mt 3,13-17), Đức Giêsu được Thần Khí dẫn vào sa mạc để chịu thử thách (Mt 4,1-11). Sau đó, khi nghe ông Gioan đã bị nộp, Người lánh qua miền Galilê, rồi bỏ Nadarét, đến Caphácnaum và từ đó, Người bắt đầu rao giảng Tin Mừng (Mt 4,12-17). Ngay khi vừa bắt đầu sứ vụ, Đức Giêsu đã kêu gọi các môn đệ đầu tiên (Mt 4,18-22), và dân chúng rất đông ở khắp miền Galilê đến để nghe Người rao giảng và được chữa lành (Mt 4,23-25).
Và rồi Chúa Giêsu đã bắt đầu sứ vụ ở miền Galilê bằng việc “rao giảng Tin Mừng Nước Trời” và “chữa lành hết mọi kẻ bệnh hoạn tật nguyền trong dân”. Hành động này của Đức Giêsu là cách hiện thực hóa lời tiên báo của ngôn sứ Isaia đã được Tin Mừng trích dẫn: “Hỡi Galilê, miền đất dân ngoại, đoàn dân đang ngồi trong cảnh tối tăm đã thấy một ánh sáng huy hoàng, những kẻ đang ngồi trong vùng bóng tối của tử thần, nay được ánh sáng bừng lên chiếu rọi”.
Ngay khi bắt đầu sứ vụ công khai, Đức Giêsu đã kêu gọi các môn đệ đầu tiên. Việc các ông lập tức từ bỏ mọi sự mà theo Người vô điều kiện là một cách đáp trả tận căn lời kêu gọi “hoán cải” trong lời rao giảng đầu tiên của Đức Giêsu. Các ông là những người dấn thân trọn vẹn qua việc từ bỏ hoàn toàn nếp sống cũ, của cải vật chất, nghề nghiệp và cả những tương quan trần thế, kể cả cha mẹ và anh em ruột thịt để theo Đức Giêsu, trở thành những môn đệ “kề cận” của Người.
Ơn gọi này được khởi xướng từ Đức Giêsu, nhưng để thành sự thì hoàn toàn do thái độ đáp trả của người được gọi. Nhờ vậy, họ thiết lập với Đức Giêsu một sự hiệp thông sâu xa để có thể trải nghiệm được toàn bộ đời sống của Đức Giêsu qua các lời giáo huấn và hành động của Người, và tiếp tục sứ vụ loan báo Tin Mừng Nước Trời cho muôn dân để quy tụ mọi người về trong một Giáo Hội duy nhất, như quy tụ “cá vào trong lưới”.
Đức Giêsu bảo các ông: “Các anh hãy theo tôi, tôi sẽ làm cho các anh thành những kẻ lưới người như lưới cá. Lập tức hai ông bỏ chài lưới mà đi theo Người.” Sự từ bỏ mọi sự này như là một đòi buộc cốt yếu đối với sứ vụ của người làm môn đệ Đức Giêsu. Nhờ đó, họ được tự do thanh thoát và có thể mở ra một tương quan mới rộng lớn hơn hướng đến mọi người và giúp mọi người được đón nhận ơn cứu độ. Tin Mừng Mátthêu đã xây dựng hình ảnh người môn đệ như một mẫu gương lý tưởng cho mọi Kitô hữu.
Sự dứt khoát của các ông cho thấy họ đã tìm được kho tàng, chân lý, lẽ sống đích thực là chính Chúa. Các ông cũng khám phá ra lý tưởng của cuộc đời. Vì thế, các ông đành mất hết và coi mọi sự là rơm rác so với mối lợi tuyệt vời là được biết Đức Kitô, Chúa của các ông. Từ đây, các ông được sống cùng và sống với Đấng là đường, là sự thật và là sự sống. Thật là hạnh phúc cho bốn môn đệ đầu tiên này!
Vẫn một điều kiện tiên quyết mang tính quyết định, nên Chúa Giêsu bảo: “Ai đã tra tay cầm cày mà còn ngoái lại đàng sau, thì không thích hợp với Nước Thiên Chúa”.
Qua câu nói này, Chúa Giêsu nói cho người xin theo Ngài biết rằng: thái độ dứt khoát là yếu tố căn bản để trở nên môn đệ của Ngài. Theo Chúa là cần phải bỏ mọi sự, không lưỡng lự, không thể tiến thoái lưỡng nan, không chấp nhận nhập nhằng với những ràng buộc của cải, thế gian và tình cảm. Muốn là người thợ cày tốt thì người cầm cày phải nhìn thẳng về phía trước để đi, nếu không thì đường cày sẽ cong queo, không thẳng hàng được. Như vậy, theo Chúa, phải để lại mọi sự, kể cả những gì là thân thuộc, gắn liền với cuộc sống, ngay cả những quyến luyến tình cảm của gia đình…
Để đạt được Nước Trời, người môn đệ phải ưu tiên số một cho những đòi hỏi của Nước ấy. Phải từ bỏ tất cả quá khứ, quên đi dĩ vãng (x. 1 Pr 5,8-9), và nhắm thẳng vào tương lai để ta tiến bước. Điều này quan trọng hơn cả cha mẹ, anh chị em, vợ con và ngay cả mạng sống của mình nữa.
Theo Chúa là dâng hiến cuộc đời trong sự quan phòng của Chúa. Chúng ta không thể cắt ngắn hay chọn lựa chỉ giữ những giới răn, lề luật hay những huấn giáo thích hợp với sở thích của chúng ta. Thánh Phaolô nhắc nhở về giới luật yêu thương. Giới răn căn bản làm nền tảng là: Ngươi phải yêu người thân cận như chính mình (Gal 5, 14).
Yêu thương thì chân thành, cảm thông và chia sẻ. Yêu thương là xây dựng, đoàn kết và hòa bình. Những sự chia rẽ, cắn xé, tranh dành và gây thù hận đều ngược lại với giới luật yêu thương: Nhưng nếu anh em cắn xé nhau, anh em hãy coi chừng, anh em tiêu diệt lẫn nhau (Gal 5, 15). Muốn nên là nhân chứng đích thực của Chúa chúng ta phải ước muốn những điều thuộc về Thần Khí của sự thật, tình yêu và bình an.
Khi gọi các môn đệ, Chúa Giêsu nói: Hãy theo Ta, Ta sẽ làm cho các ngươi trở thành những ngư phủ lưới người ta. (Mt 4, 19) Lập tức họ theo Người. Thật là lạ lùng! Nghĩ về các tông đồ cũng gợi ta nhớ về mình. Ta cũng trả lời tiếng gọi theo Chúa, nhưng đã phải đắn đo suy nghĩ rất nhiều rồi mới gật đầu. Có nhiều trường hợp sau khi cuộc đời trầy trụa ba chìm bảy nổi chín cái lênh đênh, rồi mới thấy tu là cõi phúc tình là giây oan, nhưng vẫn chưa trọn vẹn!
Muốn theo Chúa ta phải vượt lên trên những ràng buộc về quyền, tiền và sẵn sàng bước theo Chúa Giêsu trên hành trình loan báo này. Bao lâu chúng ta còn vướng bận quá nhiều trong những chuyện như cơm áo gạo tiền; còn đi tìm những điểm tựa danh vọng, an nhàn thư thái; còn lo lắng quá nhiều đến tình cảm riêng tư, thì bấy lâu con người chúng ta nặng nề và không thanh thoát trong việc làm vinh danh Chúa và mưu cầu hạnh phúc cho con người được.
Có được tinh thần thanh thoát và nhẹ nhàng thì chúng ta mới nhạy bén để làm theo sự hướng dẫn của Thần Khí chứ không theo xác thịt. Khi sống và lựa chọn như thế, ta mới xác định căn tính và mục đích của chúng ta, và Chúa mới là gia nghiệp của ta thực sự.
Suy niệm 2: Lm. Luy Gonzaga Nguyễn Quang Vinh
DÂN NGOẠI ĐƯỢC SOI SÁNG
Khởi sự rao giảng. Sau khi được Gioan Tẩy Giả giới thiệu là Chiên Thiên Chúa, Đức Giê-su bắt đầu rao giảng công khai về Nước Trời. Sau biến cố Gio-an Tẩy Giả bị vua Hê-rô-đê bắt cầm tù, Đức Giê-su lánh mặt, bỏ Na-da-rét đến xứ Ca-phác-na-um, miền Ga-li-lê (phía Bắc), “thuộc địa hạt Dơ-vu-lun và Nép-ta-li … vùng tả ngạn sông Gio-đan … Ga-li-lê, miền đất của dân ngoại! Những kẻ đang ngồi trong vùng bóng tối của tử thần, nay được ánh sáng bừng lên chiếu rọi” (Bài Tin Mừng Mt 4, 12-29). Bài Tin Mừng làm ứng nghiệm lời tiên tri I-sa-i-a : “Dân đang lần bước giữa tối tăm, đã thấy một ánh sáng huy hoàng” (x. Bài đọc 1. Is 8,23b-9,3).
Chúng ta biết rằng thánh Mát-thêu viết Tin Mừng cho người Do thái cho nên ngài thường trích dẫn Sách Thánh Cựu ước để minh chứng rằng Đức Giê-su là Đấng Mê-si-a phải đến để hoàn tất lời tiên tri nói về Đấng Cứu Thế. Nghĩa là minh chứng lời sấm của tiên tri I-sa-i-a nay hiện thực nơi bản thân Đức Giê-su.
Thánh Gio-an Tẩy Giả hoàn tất cuộc đời mình trong ngục thất và bị chém đầu. Thời đại Cựu ước hoàn tất với Gio-an Tẩy Giả, thời đại Tân ước mở ra với Đức Giê-su, Người kết thúc cuộc đời cũng tựa như số phận của vị Tiền Hô, bằng đổ máu trên thập giá. Cả bản thân và sự nghiệp của Gio-an tiên báo số phận của Đức Giê-su.
Đức Giê-su bắt đầu rao giảng tại vùng Ga-li-lê, ‘miền đất của dân ngoại’, cho thấy Đức Giê-su ưu tiên rao giảng Tin Mừng cho dân ngoại, Tin Mừng của Chúa không dành riêng cho một dân tộc nào nhưng dành cho mọi người, không có sự phân biệt hay kỳ thị chủng tộc, màu da, tiếng nói hay lục địa. Ngay từ đầu Đức Giê-su đã hướng về dân ngoại. Nội dung lời rao giảng của Đức Giê-su lấy lại lời rao giảng của Gio-an Tiền Hô, câu 17 viết : “Từ lúc đó, Đức Giê-su bắt đầu rao giảng: ‘Anh em hãy sám hối, vì Nước Trời đã đến gần’”.
Chúng ta có thể hiểu Nước Trời hay Nước Thiên Chúa, là chính Đức Giê-su. Một khái niệm thần học khó hiểu vì đó là một thực tại nhiệm mầu. Người ta không thể hiểu Nước Trời tách rời khỏi Đức Giê-su và Giáo Hội. Giáo Hội ở trong Nước Trời, tuy nhiên Nước Trời không đồng nhất với Giáo Hội vì Giáo Hội rao giảng Nước Trời, tức rao giảng Chúa Ki-tô chứ không rao giảng chính Giáo Hội. Cả ba khái niệm đan quyện vào nhau.
Phần hai của bài Tin Mừng cho thấy hoạt động truyền giáo của Đức Giê-su. Người di chuyển nhiều nơi, “đi dọc theo bờ hồ Ga-li-lê”, kêu gọi hai anh em An-rê và Phê-rô đang đánh cá, và đi xa hơn nữa, Người gặp hai anh em Gia-cô-bê và Gio-an đang vá lưới, Người kêu gọi và họ cũng bỏ nghề lưới cá đi theo người để “thành những kẻ lưới người như lưới cá”. Đức Giê-su dạy giáo lý trong hội đường, “chữa hết mọi bệnh hoạn tật nguyền trong dân”.
Chúng ta không khỏi thắc mắc, tại sao Đức Giê-su không bắt đầu rao giảng tại Giu-đê (miền Nam), là nơi có truyền thống tôn giáo lâu đời, có đền thánh Giê-ru-sa-lem, lại là trung tâm văn hóa, hành chánh và thương mại của Do thái. Điều đó cho thấy mặc dầu viết Tin Mừng cho người Do-thái, nhưng thánh Mát-thêu nhấn mạnh đến việc Đức Giê-su ưu tiên hàng đầu truyền giáo cho dân ngoại. Công cuộc rao giảng bắt đầu từ: “Ga-li-lê, miền đất của dân ngoại!”. Ưu tư nầy được lặp lại qua các thế hệ, nhất là ngày hôm nay tại giáo phận truyền giáo Tây Nguyên.
Một điểm suy niệm khác, sự cộng tác trong truyền giáo là điều cần thiết, không ai đủ khả năng làm mọi công việc truyền giáo, cũng không ai độc quyền truyền giáo trong Giáo Hội, hay nói đúng hơn Giáo Hội không là của riêng ai, vì Giáo Hội là của Đức Giê-su Ki-tô. Chính Người cũng đã kêu gọi từ đầu những con người đánh cá đơn sơ và chất phác cộng tác vào sứ mệnh truyền giáo. Cơ chế nầy được thiết lập từ ban đầu qua lời kêu gọi của Đức Giê-su. Và từ đó truyền thống liên tục chảy từ Phê-rô, từ tông đồ đoàn đến các giáo hoàng và giám mục đoàn. Cơ chế và phẩm trật Giáo Hội khởi đi từ đó theo ý muốn của Đức Giê-su Ki-tô, Vị sáng lập Ki-tô giáo. Cho đến nay Giáo Hội luôn kêu mời sự cộng tác của tất cả Ki-tô hữu đem Tin mừng chiếu soi dân ngoại.
Có thể nói được rằng hôm qua Đức Giê-su cần đến con người để rao giảng Tin Mừng, thì hôm nay, Giáo hội là thân mình mầu nhiệm của Đức Giê-su Ki-tô cũng cần đến sự cộng tác của con người để mang Tin Mừng đến cho mọi người. Đây là sự cộng tác cao quý của con người vào chính sứ mệnh của Đức Giêsu Kitô. Sứ mệnh nầy được Hôi Thánh Việt Nam nhấn mạnh như chủ đề cho năm 2026 : Mỗi tín hữu là một môn đệ thừa sai, chủ đề như khơi bùng cháy lửa truyền giáo mà Hội Thánh không bao giờ được lãng quên, vì truyền giáo là bản chất của Hội Thánh Chúa Ki-tô.
Lạy Chúa Giê-su, xin cho con có tâm hồn truyền giáo, biết hướng về anh chị em lương dân, biết chấp nhận nhau không chút kỳ thị trong khi xây dựng Giáo Hội của Chúa ở trần gian nầy. Amen
Lm Luy Gonzaga Nguyễn Quang Vinh, Giáo xứ Đức An, Pleiku

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét