ĐỨC
GIÁM MỤC GIOAN.BAOTIXITA TRẦN HỮU ĐỨC. (1891 – 1971)
9. ĐỨC GIÁM MỤC GIOAN.BAOTIXITA TRẦN HỮU ĐỨC – GIÁM MỤC VIỆT NAM TIÊN KHỞI GIÁO PHẬN VINH.
1) Thiếu thời và học
vấn
Đức cha Gioan Baotixita Trần
Hữu Đức sinh ngày 24/6/1891 (Với tên gọi là Trần long). Thân sinh ngài là cụ Trần
Hùng, nguyên quán xứ Thọ Ninh, phủ Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh, đã lên nhập cư tại xứ
Thổ Hoàng, huyện Hương Khê tự 3 đời. Cụ là ngoại sinh của Cha Nguyễn Hoàng, một
vị giáo sĩ thời danh trong lịch sử nước nhà cận đại.
Cụ Trần Hùng đã theo giúp
Cha Nguyễn Hoàng, hồi đó đang làm Lễ Bộ Tả Tham Tri ở Huế, dưới triều Đồng
Khánh. Ở đó cụ đã kết duyên với bà Thị Nhiều, người Quảng Nam và đã sinh hạ được
4 người con. Một người con trai chết khi còn bé, Đức Cha là con thứ ba, hồi đó
còn gọi là Gioan Baotixita Long. Sau khi Cha Nguyễn Hoàng đã về quê hưu trí,
thì gia đình ngài cũng về Hà Tĩnh, ở tại họ Thổ Hoàng ít lâu, rồi sang ở Thổ
Vương. Năm ngài lên 10 tuổi, cụ thân sinh mất, thọ 53 tuổi.
Được hấp thụ một nền giáo dục
chắc chắn trong gia đình, năm 12 tuổi, ngài dâng mình cho Chúa, làm nghĩa tử
Cha già Liên, một vị linh mục thông minh và đạo đức. Cũng thời kỳ ấy, người chị
đầu ngài (Chị Tịnh) mất. Sau khi học tập với cha già ít lâu, năm 1908, ngài vào
học tại Chủng viện Xã Đoài và đổi tên là Gioan Baotixita Đức.
Ngài có óc thông minh, sâu sắc
và chăm chỉ, nên suốt sáu năm ở Chủng viện, niên khoá nào ngài cũng chiếm giải
nhất. Mãn trường năm 1914, ngài được bề trên phái đi giúp cố Nhàn, dạy bổn đạo
tân tòng tại họ Thanh Bích, xứ Đông Tháp 3 năm (1914-1917), rồi được gọi về làm
giáo sư Đại Chủng viện. Năm 1920, bề trên chọn ngài với thầy Nhiên cử đi học
trường Penang bảy năm, cũng dịp ấy mẹ ngài (thọ 60 tuổi) và người em gái (chị
Vân) qua đời.
Thầy Gioan Baotixita học ở
trường Penang 7 năm, có tiếng là một học sinh giỏi, ngày 15/8/1925, ngài chính
thức nhập hàng giáo sĩ và trong vòng một năm ấy (ngày 1.10) chịu bốn chức nhỏ
trong hàng giáo sĩ. Năm sau cũng ngày 15/8, ngài lãnh phụ phó tế, rồi tiếp đó,
ngày 8/9 lãnh phó tế. Đến đây thời hạn du học đã hết, ngài trở về nước nhà.
Ngày 2.4.1927, ngài thụ phong linh mục do Đức cha Andrê Bắc tại Nhà thờ Chính
toà Xã Đoài, rồi đặt ngài làm giáo sư Tiểu Chủng viện như trước. Suốt trong 12
năm ngài chuyên môn dạy Latinh, Pháp văn và Lịch sử Giáo Hội. Tính ngài hiền
lành, trung thực luôn để ý đến sự khai trí tiến đức cho học sinh, nên ai cũng mến
phục. Năm 1939, ngài được bằng nhậm xứ Kẻ Gai. Trong 3 năm ở đó, ngài lo tu bổ
thánh đường và đang chuẩn bị vật liệu sửa sang nhà xứ, thì năm 1942, ngài được
lệnh Bề trên sai đi quản xứ Vạn Lộc. Ở đây ngoài việc coi xứ, ngài đặc biệt chú
ý đến củng cố Phước viện sở tại. Ở đâu ngài cũng được giáo dân mến phục vì đức
tính hiền lành và yêu thương ngài.
2) Phụ tá Tổng quản Đại giám
Giữa lúc ấy thì cuộc cách mạng
tháng Tám bùng nổ đem lại một biến chuyển lớn lao trong chính trị nước nhà và một
ảnh hưởng sâu xa đến tình hình Giáo hội Việt Nam nói chung và Giáo phận Vinh
nói riêng. Nhận thấy thời thế khó khăn cho công việc quản trị Giáo phận nầy, Đức
cha Bắc giao cho Cha Chính Châu, hồi đó còn làm hạt trưởng Xã Đoài triệu tập Hội
đồng linh mục toàn Giáo phận ngày 27/7/1945. Ngài cử Cha Gioan Baotixita Đức
làm Tổng quản Đại giám giúp Ngài trong công việc nội trị và ngoại giao. Sau 34
năm tận tuỵ với Giáo phận, Đức Cha Bắc vì tuổi già sức yếu lâm bệnh rồi tạ thế
ngày 30/71946. Trong 5 năm trời đảm đang nhiệm vụ Tổng quản, giữa thời thế rất
khó khăn này, Cha Gioan Baotixita đã phải đau khổ trăm phần, trải bao phen gian
nguy, nhiều lần túng cực, thế mà ngài cứ thản nhiên bình tĩnh, cậy trông ơn
trên, lấy đức khôn ngoan mà giải quyết mọi việc cách xuôi thuận. Ngài đã vận động
cho công cuộc tổ chức thành lập Liên đoàn Giáo phận nhà ngày 3/6/1946 và đã nhận
chức Tối cao Cố vấn. Trước đây Liên đoàn Công giáo sở dĩ được tổ chức hoàn bị, có
nền tảng chắc chắn và phát triển mạnh mẽ, một phần lớn là nhờ tài lãnh đạo khôn
khéo của Ngài. Ngài đã cho xuất bản tờ báo Tiến Hành, rồi tiếp đó tạp chí Xây Dựng,
ngài đã liệu hết cách để mở lại trường Tiểu Chủng viện từ lâu vì thời thế bị
đóng cửa học sinh về ngày 1.5.1946 và ngày 29.5.1948, đoàn chủng sinh sau 28
tháng trời lưu lạc đã được ngài kêu gọi trở lại tiếp tục học hành. Ngài đã nhiệt
liệt ủng hộ chính quyền trong công cuộc kháng chiến xây dựng nước nhà.
Đối với Hội đoàn ngoài công
giáo, ngài đã xử trí một cách sáng suốt và nhã nhặn làm cho kẻ mới tiếp kiến
ngài lần đầu tiên đã phải mến phục. Tóm lại về phương diện nội trị cũng như ngoại
giao, ngài đã tỏ ra kiên toàn mọi tư cách một nhà lãnh đạo của Giáo Hội.
3) Giám quản Tông toà
Giữa lúc Toà Giám mục Giám
phận Vinh đang trống ngôi như thế trong 5 năm, giữa lúc toàn thể giáo sĩ và
giáo dân đang khắc khoải nhìn về Toà Thánh chờ đợi một giải pháp, thì ngày
19/7/1950, Thánh Bộ Truyền giáo ở Rôma, sau khi đã nhận định tình hình và biết
rõ tài đức với sự nghiệp của Cha Gioan Baotixita, đã đặt ngài lên chức Giám quản
Tông toà ban cho ngài toàn quyền quản trị Địa phận. Tin vui ấy đến với Địa phận
ngày 4.11.1950 và đã đem lại một nỗi vui mừng khôn tả, một sự cởi mở khoan
khoái cho tâm hồn 18 vạn dân 3 tỉnh. Cha Gioan Baotixita, vì lợi ích Giáo phận,
vâng lời đảm nhận lấy trách nhiệm nặng nề ấy. Công việc đầu tiên của ngài là lo
giải quyết những vấn đề lâu nay chưa ổn định được. Ngày 21/2/1951, trường thần
học, sau hơn 4 năm bị đóng cửa, đã mở đón các sinh viên trở về. Kết quả, cuối
tháng 3 năm đó đã có 7 vị linh mục tân khoa chịu chức ở Thanh Hoá, ngài xếp đặt
lên vị trí trong hàng giáo phẩm, cải tổ các Phước viện… và công bố bản “Đường lối
hiện thời của người Công giáo”.
4) Thăng quyền Giám mục
Trong khi ấy Toà Thánh nhận
xét Giáo hội Giáo phận Vinh đã trưởng thành, giáo sĩ Việt Nam đã đầy đủ khả
năng: Một Nghị định mới của Thánh Bộ Truyền giáo được công bố. Ngày 19/8/1951,
Cha Gioan Baotixita tiếp thư Toà Khâm Mạng Huế tin cho biết: Toà Thánh quyết định
giao Giáo phận Vinh cho Hàng Giáo phẩm bản quốc, đồng thời đặc cử ngài làm Giám
mục với hiệu toà Nicietane, quản trị Giáo phận Vinh thay mặt Toà Thánh. Ai nói
hết nỗi vui mừng và hiên ngang của toàn thể Giáo phận Vinh khi nghe tin ấy.
Riêng Cha Gioan Baotixita, ngài hồi hộp lo sợ, quyết định xin từ chối, nhưng vì
các cha yêu cầu mãi và sợ thiệt hại cho Giáo phận, ngài phải vâng lời Toà Thánh
nghiêng vai lãnh lấy trách nhiệm cao trọng, nhưng rất nặng nề ấy. Ngài là vị Giám
mục Việt Nam tiên khởi Giáo phận Vinh. Với Khẩu hiệu : "Hãy dọn đường cho
Chúa"
Cuộc đời giám mục của Đức
cha Trần Hữu Đức đã khai mạc bằng một ngày khánh nhật của Giáo phận. Nhờ Liên
đoàn Công giáo, Khánh nhật của Giáo phận đã được tổ chức rất long trọng. Nhưng
riêng cha Trần Hữu Đức, ngài đã biết rõ cái ý nghĩa thâm sâu của ngày lịch sử ấy.
Đối với ngài ngày ấy, chỉ là một cuộc “khải hoàn vào thành thánh” tiên báo những
ngày đau thương của tuần lễ tử nạn.
1954, hiệp định Genève được
ký kết, phong trào di cư nổi lên cuồn cuộn như thác lũ từ Bắc vào Thanh Hoá và
vào Nghệ-Tĩnh-Bình. Một số giáo dân Quỳnh Lưu đi trước kéo theo một số ở Phủ Diễn,
Vinh, Nam Đàn, Cửa Lò, Xã Đoài, Hà Tĩnh và Quảng Bình.
Đức cha Trần Hữu Đức như ngơ
ngác, như mất tinh thần, thấy cả một đoàn con cái trên 50.000 người trong ba tỉnh
bỏ Giáo phận ra đi vào miền đất vô định. Chưa hết, nhiều linh mục, nhiều chủng
sinh và cả linh mục Trần Thanh Ngoạn, Giám đốc Đại Chủng viện Xã Đoài, cũng ra
đi di cư luôn nốt.
Lòng Người tê tái sầu muộn,
nhưng biết sao được, vì nhân tình thế sự đổi thay, vì chương trình an bài của
Thiên Chúa Quan Phòng, Người đành giơ tay chấp nhận để rồi không phải chỉ bằng
đó mà còn nhiều điều khác phải chấp nhận nữa. Đó là cuộc chiến từ năm 1966 đến
năm 1972 do Mỹ trực tiếp can thiệp vào Việt Nam. Bao nhiêu máy bay Mỹ đã oanh tạc
miền Bắc, cào nát cả Giáo phận. Nhà thờ Chính toà, các cơ sở của Giáo phận, Đại
Chủng viện, Tiểu Chủng viện, Trường tập, Bệnh viện sụp đổ hoàn toàn… Nhiều hòm
Hài Cốt của các Thánh Tử Đạo tan tành.
Nhiều giáo dân, tu sĩ, giáo
sĩ, linh mục và cả Đức cha phó Nguyễn Đình Nhiên cũng đã từ trần hôm ngày
24.3.1969. Thêm vào đó biêt bao nhiêu nỗi cơ cực trong tâm hồn, ngoài thể xác
đã làm cho ngài già hẳn đi đến độ kiệt quệ và từ trần hồi 3 giờ sáng ngày
5.1.1971, nghĩa là ngài làm Giám mục 20 năm cộng với 5 năm Tổng quản. Như vậy
là 25 năm tất cả, ngài đã dâng hiến để phục vụ Nước Chúa trong phần Hội Thánh của
vùng Nghệ Tĩnh Bình.
Nguồn: giaophanvinh.net

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét