Thứ Bảy, 13 tháng 6, 2026

KHI VỊ MỤC TỬ ĐANG GIẢNG BỖNG DỪNG LẠI… VÀ NHỮNG GIỌT NƯỚC MẮT RƠI XUỐNG.

 


KHI VỊ MỤC TỬ ĐANG GIẢNG BỖNG DỪNG LẠI… VÀ NHỮNG GIỌT NƯỚC MẮT RƠI XUỐNG.

Lm. Anmai, CSsR

Trong Thánh lễ Truyền chức Linh mục của Tổng Giáo phận Sài Gòn hôm thứ Sáu, ngày 12 tháng 6 năm 2026, khi đang giảng và tha thiết nhắn nhủ những người sắp lãnh nhận thiên chức linh mục, vị mục tử của Tổng Giáo phận bỗng dừng lại… Giọng nói của ngài chậm dần, những lời đang tuôn chảy bỗng trở nên đứt quãng, khoảng lặng kéo dài hơn và rồi Đức Tổng Giám mục Giuse Nguyễn Năng đã bật khóc. Đó không phải là những giọt nước mắt của một người yếu đuối, cũng không phải là một phút xúc động nhất thời giữa một nghi lễ long trọng, càng không phải là một hình ảnh được tạo ra để gây chú ý hay khơi gợi cảm xúc nơi đám đông. 

Đó dường như là những giọt nước mắt đã được chưng cất từ biết bao năm tháng thao thức, cầu nguyện, hy sinh, kỳ vọng, đau đớn và yêu thương của một vị mục tử dành cho Giáo hội, cho các linh mục, cho đoàn chiên và cho những mối tương quan đang ngày càng trở nên mong manh trong đời sống Giáo hội hôm nay. Trưa nay, trong giờ nghỉ, tôi vô tình lướt TikTok và xem được một đoạn clip trích từ bài giảng ấy. Ban đầu, tôi nghĩ mình chỉ xem qua vài phút rồi sẽ lướt tiếp như vẫn thường lướt qua biết bao nội dung khác trên mạng xã hội, thế nhưng tôi đã dừng lại. Tôi dừng lại không chỉ vì những lời Đức Tổng đang nói, mà còn vì khoảng lặng của ngài. Tôi dừng lại vì giọng nói nghẹn ngào. Tôi dừng lại vì hình ảnh một vị mục tử đã không thể che giấu được nỗi đau đang chất chứa trong lòng. Có lẽ có những điều người ta vẫn có thể nói bằng ngôn từ, nhưng cũng có những nỗi đau mà khi đã chạm đến tận cùng, ngôn từ không còn đủ sức chuyên chở, và nước mắt chính là ngôn ngữ cuối cùng của một trái tim thật sự yêu thương. 

Khi nhắn nhủ các tân linh mục, Đức Tổng tha thiết căn dặn các ngài phải tránh thái độ “giáo sĩ trị”, phải cẩn thận trước cám dỗ sử dụng chức thánh như một thứ quyền lực, phải tránh đặt mình lên trên cộng đoàn, tránh xem giáo dân chỉ là những người phải vâng lời, phải phục vụ, phải thực hiện mọi ý muốn của linh mục, tránh biến sứ vụ mục tử thành một vị trí để được kính trọng, được ưu tiên, được cung phụng hay được bảo vệ khỏi mọi lời góp ý. Nhưng đồng thời, ngài cũng nhắn nhủ cộng đoàn giáo dân đừng quá dễ dàng bêu rếu, chỉ trích hay kết án các linh mục trên mạng xã hội; đừng biến những thiếu sót của một con người thành món ăn cho sự tò mò của đám đông; đừng vội vàng phán quyết một linh mục chỉ qua một đoạn clip, một câu nói, một lần hành xử thiếu khéo léo hoặc một câu chuyện mới chỉ được nghe từ một phía. Ngài không bao che cho sai trái, không phủ nhận những giới hạn, thiếu sót hay thậm chí những vấp ngã có thật trong đời sống linh mục, nhưng giữa lúc nói về những điều ấy, ngài đã bật khóc.

Thật sự, lòng tôi trùng xuống. Đây không phải lần đầu tiên tôi nhìn thấy Đức Tổng xúc động khi nói về đời sống linh mục, nhưng mỗi lần chứng kiến một vị mục tử rơi nước mắt vì các linh mục và vì Giáo hội, tôi vẫn không thể xem đó là một chuyện bình thường. Bởi người ta có thể nói rất hay về Giáo hội mà không thật sự đau nỗi đau của Giáo hội; người ta có thể giảng rất nhiều về tình huynh đệ nhưng trong lòng vẫn lạnh lùng trước nỗi cô đơn của anh em; người ta có thể kêu gọi cầu nguyện cho linh mục nhưng lại thích thú khi một linh mục vấp ngã; người ta có thể nói rất nhiều về sự hiệp hành, lắng nghe, đồng trách nhiệm, nhưng trong thực tế lại chỉ muốn người khác phải nghe mình, làm theo ý mình và trở thành mẫu người mà mình mong đợi. Chỉ khi thật sự yêu, người ta mới đau. Chỉ khi thật sự xem Giáo hội là gia đình, người ta mới nghẹn ngào trước những rạn nứt trong gia đình ấy. Chỉ khi thật sự mang trong lòng trách nhiệm của người cha, người mục tử mới có thể vừa nghiêm khắc cảnh tỉnh những người con của mình, vừa đau đớn khi nhìn thấy họ bị tổn thương, bị hiểu lầm, bị bêu tên hay bị đẩy ra trước sự phán xét khắc nghiệt của đám đông.

Có lẽ những giọt nước mắt của Đức Tổng không chỉ rơi vì một vài câu chuyện riêng lẻ, nhưng là nỗi đau đã tích tụ từ rất nhiều câu chuyện khác nhau trong đời sống Giáo hội: nỗi đau của những giáo dân từng bị tổn thương vì cách hành xử thiếu mục tử của một linh mục; nỗi đau của những linh mục đang kiệt sức nhưng không biết có thể tâm sự với ai; nỗi đau của những cộng đoàn chia rẽ vì phe nhóm, quyền lợi, hơn thua và tự ái; nỗi đau của những người nhân danh bảo vệ sự thật nhưng cuối cùng lại làm tổn thương phẩm giá của nhau; nỗi đau của những linh mục bị xét đoán chỉ vì không đáp ứng được mọi kỳ vọng; nỗi đau của những giáo dân bị coi thường chỉ vì họ nghèo, ít học, không có vị trí hay không thuộc nhóm thân cận với cha xứ. 

Những giọt nước mắt ấy có lẽ chứa đựng cả hai phía: nước mắt dành cho những con chiên từng bị mục tử làm tổn thương và nước mắt dành cho những mục tử từng bị đoàn chiên làm tổn thương. Bởi trong gia đình Giáo hội, không chỉ giáo dân có thể đau vì linh mục, mà linh mục cũng có thể đau vì giáo dân; không chỉ giáo dân cần được lắng nghe, mà linh mục cũng cần được lắng nghe; không chỉ giáo dân cần được tôn trọng, mà linh mục cũng cần được bảo vệ phẩm giá; không chỉ linh mục có trách nhiệm sống thánh thiện, mà mỗi người giáo dân cũng có trách nhiệm sống bác ái, công bằng, chân thật và trưởng thành trong đức tin. Thế nhưng, dường như trong thời đại mạng xã hội hôm nay, chúng ta đang dần đánh mất khả năng nhìn thấy một con người trọn vẹn phía sau một sự việc. Chúng ta nhìn một đoạn clip ngắn và tưởng rằng mình đã hiểu cả một cuộc đời. Chúng ta nghe một lời kể và nghĩ rằng mình đã biết toàn bộ sự thật. Chúng ta đọc một bài đăng có hàng nghìn lượt chia sẻ rồi mặc nhiên cho rằng số đông chắc chắn đúng. 

Chúng ta dễ dàng nhấn nút chia sẻ, dễ dàng để lại một bình luận cay nghiệt, dễ dàng gọi tên, quy kết và kết án một người mà có khi chúng ta chưa từng gặp, chưa từng nói chuyện, chưa từng nghe họ trình bày và cũng chưa từng dành cho họ một lời cầu nguyện. Có những lúc người ta nhân danh việc bảo vệ Giáo hội để làm tổn thương Giáo hội, nhân danh sự thật để hủy hoại một con người, nhân danh công lý để thỏa mãn sự giận dữ, nhân danh góp ý để bêu xấu, nhân danh lòng nhiệt thành để nuôi dưỡng chia rẽ, và điều đáng sợ nhất là khi làm tất cả những điều ấy, chúng ta vẫn tin rằng mình đang phục vụ Thiên Chúa. Sự thật cần được nói, sai phạm cần được sửa chữa, những người bị tổn thương cần được bảo vệ, những lạm dụng quyền bính cần được ngăn chặn. Không ai có quyền dùng chức thánh, áo dòng hay vị trí trong Giáo hội để che giấu điều sai trái. Không một linh mục nào được đứng ngoài sự thật, công lý và trách nhiệm. Chức thánh không làm cho một người trở thành bất khả phê bình.

Quyền bính trong Giáo hội không phải là một đặc quyền giúp người ta miễn nhiễm trước mọi góp ý hay trách nhiệm. Nhưng sự thật của Kitô giáo không bao giờ tách khỏi đức ái. Công lý của Tin Mừng không bao giờ đồng nghĩa với việc sỉ nhục. Sửa lỗi không có nghĩa là làm nhục. Góp ý không có nghĩa là kết án. Bảo vệ nạn nhân không đồng nghĩa với việc cho phép đám đông biến mình thành quan tòa rồi thi hành bản án bằng những lời độc địa. Một điều có thể đúng về nội dung nhưng vẫn sai về cách thức. Một sự thật được nói ra với ý định hủy hoại người khác có thể trở thành một thứ vũ khí. Một lời tố cáo không được kiểm chứng có thể giết chết danh dự của một con người. Một bức ảnh, một đoạn ghi âm, một đoạn video bị cắt khỏi bối cảnh có thể tạo nên một bản án mà người bị kết án không bao giờ có cơ hội tự bảo vệ. Mạng xã hội có một trí nhớ rất lâu nhưng lại có một lương tâm rất ngắn. Người ta có thể xóa bài nhưng không thể thu lại tất cả những lời đã phát tán. Người ta có thể xin lỗi nhưng không dễ gì trả lại danh dự đã bị nghiền nát. Người ta có thể nói rằng mình chỉ “chia sẻ cho mọi người biết”, nhưng mỗi lượt chia sẻ thiếu trách nhiệm đều có thể trở thành một nhát dao cắm sâu vào cuộc đời người khác. Có những linh mục thật sự đã sai và cần khiêm tốn nhận lỗi, sửa chữa và hoán cải, nhưng cũng có những linh mục bị hiểu lầm, bị thổi phồng khuyết điểm, bị quy chụp động cơ, bị biến thành đối tượng để người ta chế giễu và công kích. Có những người ngoài miệng nói rằng “tôi chỉ góp ý vì yêu Giáo hội”, nhưng trong cách họ nói không có chút đau đớn nào của tình yêu, chỉ có sự hả hê khi người khác bị hạ xuống. Tình yêu không vui mừng khi người khác sa ngã. Tình yêu không thích thú khi một linh mục bị bêu tên. Tình yêu không tranh thủ một lỗi lầm để phủ nhận toàn bộ con người và sứ vụ của người ấy. Tình yêu có thể rất nghiêm khắc nhưng không độc ác, có thể nói sự thật nhưng không chà đạp phẩm giá, có thể yêu cầu trách nhiệm nhưng vẫn để cho người có lỗi một con đường trở về.

Nghe những lời ấy, tôi chợt nghĩ đến một thực trạng rất quen thuộc trong đời sống hôm nay: chúng ta thường dễ yêu mến người khác vì tài năng, sự khéo léo, thành công, vẻ dễ mến hay những ưu điểm nổi bật của họ, nhưng lại rất khó yêu một người khi họ bộc lộ giới hạn. Chúng ta yêu một linh mục khi ngài giảng hay, quý ngài khi ngài xây dựng giỏi, tự hào khi giáo xứ dưới thời ngài có nhiều hoạt động, đông người tham dự, nhiều công trình lớn, được nhắc đến trên mạng xã hội và nổi bật hơn những nơi khác. Chúng ta vui khi vị linh mục của giáo xứ mình được nhiều người yêu mến, nhưng khi ngài mệt mỏi, thiếu khéo léo, phản ứng nóng nảy, không nhớ được hết những điều giáo dân mong muốn hoặc không đồng ý với một đề nghị nào đó, tình cảm của chúng ta có thể thay đổi rất nhanh. Hôm qua còn tung hô, hôm nay đã quay sang thất vọng.

 Hôm qua còn gọi ngài là người cha đáng kính, hôm nay đã có thể kể hết những khuyết điểm của ngài cho người khác nghe. Có người quý một linh mục không hẳn vì yêu con người của ngài, mà vì ngài đáp ứng được điều họ mong muốn. Khi còn được gần gũi, được tín nhiệm, được trao việc, được hỏi ý kiến hay được lắng nghe, họ hết lời ca ngợi. Nhưng khi không còn được như ý, những lời ca ngợi ấy có thể nhanh chóng biến thành chỉ trích, giận dữ, cay nghiệt và bôi nhọ. Đó không phải là tình yêu, mà chỉ là một sự gắn bó có điều kiện. Người giáo dân nào cũng mong giáo xứ mình có một vị linh mục thật giỏi, thật đạo đức, thật năng động, thật gần gũi, thật khéo léo, biết tổ chức, giảng hay, quản trị tốt, minh bạch, công bằng, vui vẻ với người trẻ, ân cần với người già, hiểu trẻ em, chăm sóc người nghèo, thăm viếng người bệnh, giải quyết mọi mâu thuẫn và luôn có mặt khi giáo dân cần. Những ước mong ấy không sai, nhưng có lúc chúng ta quên rằng một linh mục cũng chỉ có hai mươi bốn giờ mỗi ngày. 

Ngài cũng có một thân xác biết mệt, một trái tim có thể bị tổn thương, một tâm trí có thể quá tải, một quá khứ với những vết thương chưa chắc đã được chữa lành, một tính cách có những điểm mạnh và những giới hạn, một đời sống thiêng liêng cũng có lúc sốt sắng và lúc khô khan, một sứ vụ có những áp lực mà người ngoài không dễ nhìn thấy. Linh mục phải giảng lễ, cử hành bí tích, dạy giáo lý, họp hành, quản trị, giải quyết tài chính, lo công trình, thăm người bệnh, đồng hành với các gia đình, giải quyết những xung đột, lắng nghe những câu chuyện riêng tư, đối diện với những kỳ vọng trái ngược nhau và nhiều lúc phải đưa ra những quyết định mà dù chọn cách nào cũng sẽ có người không hài lòng. Một người muốn cha xứ phải cứng rắn, người khác lại muốn ngài mềm mỏng; người này muốn xây dựng, người kia muốn tiết kiệm; người này mong ngài gần giới trẻ, người kia trách ngài bỏ quên người già; người này muốn đổi mới, người kia cho rằng ngài đang phá bỏ truyền thống; người này trách ngài quá gần một nhóm, người khác lại nói ngài xa cách cộng đoàn. Và giữa muôn vàn mong đợi ấy, linh mục vẫn phải đứng trước bàn thờ mỗi ngày, đọc lời truyền phép, trao Mình Thánh Chúa cho cộng đoàn, an ủi người đau khổ và nói về niềm hy vọng, đôi khi ngay trong lúc chính mình đang cạn kiệt niềm vui. Có những đêm linh mục không ngủ được nhưng sáng hôm sau vẫn phải mỉm cười. Có những lời chỉ trích làm ngài đau nhưng ngài không biết có thể kể với ai. Có những hiểu lầm ngài không thể giải thích vì liên quan đến bí mật của người khác. Có những quyết định ngài phải mang tiếng oan để bảo vệ một gia đình hay một cá nhân. Có những gánh nặng mục vụ không thể đưa lên mạng xã hội để thanh minh. Có những vết thương chỉ được mang vào nhà nguyện, đặt trước Nhà Tạm rồi âm thầm chịu đựng. Linh mục cũng là con người. Một câu rất đơn giản nhưng dường như chúng ta thường quên. Nói rằng linh mục cũng là con người không phải để giảm nhẹ lý tưởng thánh thiện của đời linh mục, nhưng chính vì linh mục là con người nên ngài càng cần ơn Chúa, cần sự nâng đỡ, cần tình huynh đệ, cần những lời góp ý chân thành và cần lời cầu nguyện của cộng đoàn. Chức thánh không xóa bỏ sự mong manh của con người. Ngày truyền chức không phải là ngày một con người trở thành thiên thần. Dầu thánh được xức trên đôi tay, nhưng trái tim vẫn là trái tim của một con người.

 Áo lễ có thể che phủ thân mình nhưng không che hết được những vết thương. Thiên chức là hồng ân cao cả nhưng được đặt trong những bình sành dễ vỡ. Chính vì thế, linh mục không được kiêu căng vì chức thánh, nhưng giáo dân cũng đừng đòi hỏi linh mục phải trở thành một con người không bao giờ sai. Một linh mục khiêm tốn phải biết lắng nghe giáo dân, và một giáo dân trưởng thành cũng phải biết góp ý cho linh mục bằng lòng kính trọng và tình bác ái. Một linh mục không được sử dụng quyền bính để áp đặt, và một giáo dân cũng không được sử dụng đám đông mạng xã hội để uy hiếp. Một linh mục không được xem thường giáo dân, và một giáo dân cũng không được xúc phạm thiên chức chỉ vì bất mãn với một cá nhân. Cả hai phía đều phải hoán cải, đều phải học cách lắng nghe, đều phải từ bỏ cái tôi và đều phải tự hỏi: điều tôi sắp nói, sắp viết, sắp đăng hay sắp chia sẻ có giúp người kia trở nên tốt hơn không, hay chỉ làm họ bị tổn thương hơn?

Ở chiều ngược lại, có lẽ các linh mục cũng luôn mong muốn được cộng tác với những người có năng lực, có nhiệt huyết, có uy tín, biết tổ chức và có khả năng hoàn thành công việc. Điều đó hoàn toàn chính đáng. Giáo hội cần những người giáo dân trưởng thành, có chuyên môn, có tinh thần trách nhiệm và sẵn sàng dấn thân. Nhưng linh mục cũng phải cẩn thận để không chỉ quý trọng những người “làm được việc”, bởi giáo xứ không phải là một công ty, giáo dân không phải là nhân viên, hội đồng mục vụ không phải là ban điều hành doanh nghiệp và sự thành công của giáo xứ không thể chỉ được đo bằng số lượng công trình, mức độ hoành tráng của các chương trình hay lượt tương tác trên mạng xã hội. Có những giáo dân không giỏi tổ chức nhưng rất trung thành cầu nguyện. Có những cụ già không đóng góp được nhiều tiền nhưng đã âm thầm giữ đức tin qua biết bao gian khó. Có những người nghèo không thể đảm nhận việc lớn, nhưng một bó rau, một ký gạo hay một buổi quét sân nhà thờ của họ có thể chứa đựng một tình yêu rất lớn. Có những người vụng về, ít nói, không có ảnh hưởng, nhưng Chúa lại nhìn thấy nơi họ một tấm lòng chân thành. Nếu linh mục chỉ gần gũi người giàu, người giỏi, người có vị trí, người có thể giúp mình hoàn thành những dự án lớn, thì linh mục cũng có nguy cơ rơi vào một hình thức giáo sĩ trị rất tinh vi. Giáo sĩ trị không chỉ là nói giọng ra lệnh, không chỉ là ngồi ở vị trí cao, không chỉ là muốn mọi người phải phục vụ mình. Giáo sĩ trị còn xuất hiện khi linh mục xem mình là trung tâm của giáo xứ, khi mọi sinh hoạt đều phải mang dấu ấn cá nhân của mình, khi không chấp nhận những tiếng nói khác, khi coi góp ý là chống đối, khi chỉ tin dùng những người biết làm vừa lòng mình, khi đánh giá giá trị của giáo dân qua mức độ hữu dụng của họ, khi dùng lời giảng, tòa giải tội hay quyền quản trị để gây áp lực, khi quên rằng quyền bính mình nhận được là để phục vụ, bảo vệ và làm cho đoàn chiên được sống. 

Một linh mục không trở nên lớn lao vì có nhiều người cúi đầu trước mình. Ngài trở nên giống Chúa hơn khi biết cúi xuống rửa chân cho người khác. Ngài không cao quý chỉ vì được gọi là “cha”. Ngài chỉ thật sự sống tư cách người cha khi biết yêu thương, hy sinh, chịu trách nhiệm và mở lòng đón nhận tất cả những người Chúa trao phó, kể cả những người khó gần, hay chống đối, thường xuyên làm phiền và không mang lại lợi ích gì cho mình. Chúa Giêsu không xây dựng Hội Thánh bằng quyền lực thống trị. Người xây dựng Hội Thánh bằng một tấm thân bị bẻ ra. Người không cứu thế giới từ trên ngai vàng, nhưng cứu thế giới từ trên thập giá. Người không buộc các môn đệ phục vụ mình, nhưng quỳ xuống rửa chân cho họ. Bởi thế, mỗi lần linh mục biến chức thánh thành quyền lực, dung mạo Đức Kitô Mục Tử bị che khuất; nhưng mỗi lần giáo dân biến sự góp ý thành bêu rếu, dung mạo Đức Kitô nhân hậu cũng bị che khuất. Điều làm tôi suy nghĩ lâu nhất không phải chỉ là lời cảnh báo về giáo sĩ trị, cũng không phải chỉ là lời nhắc giáo dân đừng chỉ trích linh mục trên mạng xã hội. Điều ở lại trong tôi là hình ảnh một vị mục tử đã bật khóc. Những giọt nước mắt ấy giống như một câu hỏi dành cho tất cả chúng ta: chúng ta đã làm gì với gia đình Giáo hội của mình? Tại sao những người cùng đón nhận một tấm bánh, cùng uống một chén thánh, cùng đọc một Kinh Lạy Cha, lại có thể dễ dàng làm tổn thương nhau đến thế? Tại sao chúng ta nói quá nhiều về hiệp nhất nhưng lại âm thầm nuôi dưỡng phe nhóm? Tại sao chúng ta xin Chúa tha nợ cho mình nhưng lại không để cho người khác một cơ hội sửa sai? Tại sao chúng ta muốn các linh mục phải thánh thiện nhưng chính mình lại ít cầu nguyện cho sự thánh thiện của các ngài? Tại sao linh mục mong giáo dân vâng phục nhưng đôi khi không chịu lắng nghe những đau khổ của họ? Tại sao giáo dân mong linh mục hiền lành như Chúa nhưng lại có thể nói về linh mục bằng những lời rất thiếu nhân hậu?

Có lẽ chúng ta đang sống trong một thời đại mà việc phán xét trở nên quá dễ dàng. Chỉ cần một chiếc điện thoại, vài dòng trạng thái, một đoạn video hay một lời kể chưa được kiểm chứng, trong vài phút danh dự của một con người có thể bị đặt trước hàng nghìn người. Trong vài giờ, một câu chuyện có thể bị thêm thắt, suy diễn và biến dạng. Trong vài ngày, một con người có thể bị đóng khung vĩnh viễn trong một lỗi lầm. Người ta không còn nói: “Cha ấy đã làm một việc sai”, mà nói: “Cha ấy là một người xấu.” Người ta không còn nói: “Người giáo dân ấy đã cư xử chưa đúng”, mà nói: “Hạng người ấy không đáng ở trong Giáo hội.” Chúng ta không còn phân biệt hành vi với con người, không còn phân biệt một lần vấp ngã với toàn bộ cuộc đời, không còn phân biệt lỗi lầm có thể sửa chữa với căn tính của một người. 

Nhưng Thiên Chúa không nhìn chúng ta như thế. Nếu Thiên Chúa chỉ nhìn Phêrô qua ba lần chối Thầy, đã không có vị thủ lãnh của Hội Thánh sơ khai. Nếu Chúa chỉ nhìn Tôma qua sự hoài nghi, đã không có lời tuyên xưng: “Lạy Chúa của con, lạy Thiên Chúa của con.” Nếu Chúa chỉ nhìn Phaolô qua quá khứ bách hại các Kitô hữu, đã không có vị Tông đồ dân ngoại. Nếu Chúa chỉ nhìn người phụ nữ ngoại tình qua tội lỗi của chị, đã không có lời: “Tôi cũng không kết án chị. Hãy đi và từ nay đừng phạm tội nữa.” Thiên Chúa không phủ nhận tội lỗi, nhưng Người không bao giờ đồng hóa con người với tội lỗi của họ. Người gọi tội là tội nhưng vẫn giữ lại phẩm giá cho tội nhân. Người sửa dạy nhưng không nghiền nát. Người đòi hỏi hoán cải nhưng đồng thời mở ra một tương lai. Đó mới là lòng thương xót. Lòng thương xót không phải là coi như chẳng có chuyện gì xảy ra, cũng không phải là bao che cho sai trái. Lòng thương xót là dám nhìn thẳng vào sự thật nhưng không tuyệt vọng về con người, là yêu một người không chỉ khi họ tốt đẹp mà cả khi họ cần được chữa lành, là không để lỗi lầm của họ trở thành lý do để mình được quyền hủy hoại họ. Giáo hội không phải là nơi quy tụ những con người hoàn hảo. Giáo hội là nơi những con người bất toàn cùng nương tựa vào lòng thương xót của Thiên Chúa để bước đi. Linh mục không bước đi phía trước vì ngài hoàn hảo hơn mọi người. Ngài đi trước để chỉ đường, nhưng chính ngài cũng cần được Chúa dẫn dắt. Giáo dân không đi phía sau như những người không có tiếng nói. Họ cùng mang lấy sứ mạng, cùng cộng tác, cùng cầu nguyện và cũng có trách nhiệm giúp mục tử sống trung thành hơn với ơn gọi. Chúng ta thuộc về nhau. 

Linh mục không thể sống ơn gọi mà không có đoàn chiên, và giáo dân cũng cần các linh mục để được nuôi dưỡng bằng Lời Chúa, các bí tích và đời sống mục vụ. Khi một linh mục thánh thiện, cả cộng đoàn được nâng lên. Khi một linh mục sa sút, cả cộng đoàn bị tổn thương. Khi giáo dân biết yêu thương và cộng tác, linh mục có thêm sức mạnh để phục vụ. Khi giáo dân chia rẽ, tranh giành, vu khống và gây áp lực, linh mục cũng có thể bị bào mòn. 

Vì thế, thay vì chỉ hỏi: “Cha xứ đã làm gì cho tôi?”, có lẽ mỗi người giáo dân cần hỏi: “Tôi đã làm gì để giúp cha xứ trở nên một linh mục tốt hơn? Tôi đã cầu nguyện cho ngài chưa? Tôi đã góp ý trực tiếp, chân thành và đúng lúc chưa? Tôi có sẵn sàng cộng tác mà không đòi được ghi nhận không? Tôi có nói tốt cho ngài khi người khác đang hiểu lầm không? Tôi có biết dừng lại trước khi chia sẻ một câu chuyện bất lợi cho ngài không? Tôi có phân biệt giữa góp ý xây dựng và nói xấu không?” Và thay vì chỉ hỏi: “Giáo dân có vâng lời tôi không?”, mỗi linh mục cũng cần tự hỏi: “Tôi đã yêu đoàn chiên Chúa trao đủ chưa? Tôi có lắng nghe họ không? Tôi có để những người nghèo, những người ít tiếng nói và những người không thuộc nhóm thân cận được đến gần mình không? Tôi có dùng quyền bính như Đức Kitô hay như một người cai trị? Tôi có cầu nguyện trước khi đưa ra một quyết định ảnh hưởng đến cộng đoàn không? Tôi có đủ khiêm tốn để nhận lỗi khi mình sai không? Tôi đang phục vụ công trình của Chúa hay đang âm thầm xây dựng một công trình mang tên mình? Tôi có yêu người giáo dân ấy vì họ là con cái Chúa hay chỉ vì họ có ích cho công việc của tôi?” Chúng ta thường muốn người khác phải tốt hơn, giỏi hơn và thánh thiện hơn, nhưng lại ít khi tự hỏi mình đã yêu thương họ đủ chưa. Chúng ta mong linh mục phải kiên nhẫn với mọi người nhưng lại không kiên nhẫn với một thiếu sót của linh mục. Chúng ta mong giáo dân phải hiểu và nâng đỡ linh mục, nhưng đôi khi linh mục lại không hiểu những vất vả, nghèo khó và tổn thương của giáo dân. Chúng ta mong người khác phải thay đổi trong khi bản thân vẫn giữ nguyên sự tự ái, định kiến và cách hành xử của mình.

Có lẽ điều làm Đức Tổng nghẹn ngào không chỉ là một vài hiện tượng riêng lẻ. Sâu xa hơn, đó là nỗi đau khi nhìn thấy những tương quan trong Giáo hội bị tổn thương bởi sự thiếu tin tưởng, bởi những kỳ vọng quá mức, bởi quyền lực, phe nhóm, tự ái và thiếu lòng thương xót. Một Giáo hội có thể xây được nhiều công trình nhưng vẫn nghèo nàn tình huynh đệ. Một giáo xứ có thể tổ chức những lễ hội rất lớn nhưng trong lòng nhiều người vẫn xa cách nhau. Một cộng đoàn có thể hát rất hay về tình yêu nhưng sau Thánh lễ lại tiếp tục nói xấu nhau. Một linh mục có thể giảng rất hùng hồn về sự khiêm nhường nhưng trong cách quản trị vẫn không chấp nhận ai góp ý. Một giáo dân có thể đọc kinh mỗi ngày nhưng vẫn giữ trong lòng sự cay nghiệt với mục tử của mình. Điều Chúa muốn không phải chỉ là một Giáo hội hoạt động hiệu quả. Chúa muốn một Giáo hội biết yêu. Không phải một Giáo hội không bao giờ có sai sót, nhưng là một Giáo hội biết sửa sai trong tình yêu. Không phải một cộng đoàn không có mâu thuẫn, nhưng là một cộng đoàn biết hòa giải. Không phải những linh mục không có giới hạn, nhưng là những linh mục đủ khiêm tốn để nhận ra giới hạn và để Chúa uốn nắn. Không phải những giáo dân luôn im lặng, nhưng là những giáo dân biết nói sự thật trong đức ái và biết phân biệt giữa trách nhiệm với sự công kích. Ước gì mỗi linh mục nhớ rằng ngày truyền chức không phải là ngày mình được đặt lên trên cộng đoàn, mà là ngày đời mình được đặt xuống cho cộng đoàn. Đôi tay được xức dầu không phải để nắm quyền nhưng để chúc lành. Đôi chân bước lên cung thánh không phải để rời xa dân Chúa nhưng để từ bàn thờ bước xuống và đi vào những ngõ ngách đau khổ của con người. Miệng được trao nhiệm vụ rao giảng không phải để kết án nhưng để công bố Tin Mừng. Trái tim người mục tử không được chỉ dành cho những con chiên dễ thương, ngoan ngoãn và hữu ích, nhưng phải mở ra cho cả những con chiên bướng bỉnh, bị thương, lạc đường và đôi khi quay lại làm đau chính người chăn dắt mình. 

Ước gì mỗi giáo dân cũng nhớ rằng linh mục không phải là người làm thuê cho những nhu cầu thiêng liêng của mình, không phải một người cung cấp dịch vụ bí tích, không phải một nhà tổ chức sự kiện, không phải một người buộc phải làm vừa lòng tất cả. Ngài là một người được Chúa gọi, được Giáo hội trao sứ vụ, nhưng vẫn mang trong mình phận người yếu đuối. Hãy yêu thương linh mục không phải bằng sự tâng bốc, vì tâng bốc không giúp linh mục nên thánh. Bao che cũng không giúp linh mục trưởng thành. Hãy yêu bằng lời cầu nguyện, bằng sự cộng tác chân thành, bằng góp ý khiêm tốn, bằng sự trung thực và bằng lòng can đảm bảo vệ ngài trước những phán xét bất công. Đừng đặt linh mục lên bệ quá cao để rồi khi thấy ngài có khuyết điểm, chúng ta lại kéo ngài xuống một cách tàn nhẫn. Hãy để linh mục được là một con người đang trên đường nên thánh như tất cả chúng ta. Có thể ngài sẽ làm chúng ta thất vọng, có thể ngài sẽ có lúc thiếu khéo léo, có thể một quyết định của ngài khiến chúng ta không hài lòng.

Khi ấy, thay vì kể câu chuyện với tất cả mọi người, hãy thử đến gặp ngài. Thay vì đăng lên mạng xã hội, hãy thử nói chuyện trong sự bình tĩnh. Thay vì chỉ tìm những người đồng tình với mình, hãy tìm hiểu thêm bối cảnh. Thay vì nguyền rủa, hãy cầu nguyện. Thay vì rời bỏ cộng đoàn trong giận dữ, hãy tìm một con đường đối thoại. Dĩ nhiên, trong những trường hợp nghiêm trọng liên quan đến lạm dụng, bạo lực, tài chính hay sự an toàn của người khác, cần trình báo với những thẩm quyền có trách nhiệm. Sự im lặng không đúng chỗ cũng có thể tiếp tay cho điều xấu. Nhưng ngay cả khi phải tố cáo một sai phạm, chúng ta vẫn có thể hành động với sự công bằng, thận trọng và tôn trọng phẩm giá của tất cả những người liên quan, thay vì biến nỗi đau thành một cuộc hành hình công khai.

Giáo hội cần sự thật nhưng Giáo hội cũng cần lòng thương xót. Giáo hội cần kỷ luật nhưng Giáo hội cũng cần những vòng tay. Giáo hội cần những linh mục thánh thiện nhưng linh mục cần những cộng đoàn biết cầu nguyện và nâng đỡ. Giáo dân cần những mục tử nhân lành nhưng mục tử cũng cần những người con biết yêu thương bằng một tình yêu trưởng thành. Có lẽ sau cùng, điều giữ chúng ta lại với nhau không phải là tài năng, bởi tài năng rồi cũng có lúc suy giảm; không phải thành công, bởi những công trình rồi cũng cũ đi; không phải những chương trình hoành tráng, bởi mọi sự kiện rồi cũng kết thúc; không phải danh tiếng, bởi sự tung hô của đám đông có thể đổi chiều chỉ sau một đêm. Điều giữ chúng ta lại với nhau chính là tình yêu của Đức Kitô, một tình yêu biết cúi xuống, biết chịu đựng, biết nói sự thật nhưng không làm nhục, biết sửa dạy nhưng không loại trừ, biết nhìn thấy sự yếu đuối nhưng vẫn tin rằng ơn Chúa có thể biến đổi con người. 

Những giọt nước mắt của vị mục tử hôm ấy có thể rồi sẽ khô. Đoạn clip rồi cũng sẽ trôi qua giữa hàng nghìn nội dung khác. Những cảm xúc ban đầu rồi cũng lắng xuống. Nhưng ước gì lời mời gọi từ những giọt nước mắt ấy không bị lãng quên. Ước gì chúng ta bớt đi một lời phán xét và thêm một lời cầu nguyện, bớt một lần chia sẻ câu chuyện chưa được kiểm chứng và thêm một lần trực tiếp đối thoại, bớt một chút tự ái và thêm một chút khiêm nhường, bớt đòi hỏi người khác hoàn hảo và thêm kiên nhẫn với hành trình của họ, bớt dùng quyền lực và thêm tinh thần phục vụ, bớt nhìn nhau như những đối thủ và nhớ rằng tất cả đều đang sống nhờ cùng một lòng thương xót. Ước gì người giáo dân yêu thương linh mục bằng tình yêu của những người con trưởng thành: không thần tượng hóa, không mù quáng bao che, nhưng chân thành, trung tín, biết cầu nguyện, biết góp ý và biết bảo vệ. Ước gì các linh mục yêu thương giáo dân bằng trái tim của Đức Kitô Mục Tử: không phân biệt giàu nghèo, không tìm người phục vụ mình, không dùng quyền lực để thống trị, nhưng biết lắng nghe, cúi xuống, đồng hành và hiến mạng sống. Ước gì các giám mục luôn có được trái tim biết đau với nỗi đau của linh mục và giáo dân. Ước gì các linh mục biết khóc trước những vết thương mình đã vô tình gây ra cho đoàn chiên. Ước gì giáo dân cũng biết khóc khi một lời nói của mình làm tổn thương người mục tử. Và ước gì những giọt nước mắt ấy không dừng lại ở cảm xúc, nhưng trở thành một cuộc hoán cải thật sự.

Xin cầu nguyện cho các tân linh mục vừa lãnh nhận thiên chức. Xin Chúa gìn giữ các ngài khỏi cám dỗ của quyền lực, danh vọng, tiền bạc, sự tự mãn và khát vọng được tung hô. Xin cho các ngài không bao giờ quên rằng chức linh mục không phải là phần thưởng dành cho người xứng đáng, nhưng là hồng ân được trao cho một con người yếu đuối để phục vụ dân Chúa. Xin cho đôi tay các ngài luôn biết chúc lành hơn là chỉ trỏ, cho lời nói các ngài biết chữa lành hơn là làm tổn thương, cho đôi chân các ngài biết tìm đến những người bé nhỏ hơn là chỉ bước vào những nơi sang trọng, cho trái tim các ngài mang được mùi của đoàn chiên, biết vui với người vui, khóc với người khóc và ở lại bên những người đang bị bỏ rơi. Xin cầu nguyện cho những linh mục đang mệt mỏi, cô đơn và bị hiểu lầm; cho những linh mục đang khô khan trong đời sống cầu nguyện; cho những linh mục đang gặp khủng hoảng trong ơn gọi; cho những linh mục đã sai lỗi và đang cần can đảm trở về; cho những linh mục đang mang tiếng oan nhưng không thể tự thanh minh; cho những linh mục già yếu, bệnh tật và bị lãng quên; cho những linh mục trẻ đang bị cuốn vào áp lực phải thành công, phải nổi tiếng và phải được nhiều người yêu mến. Xin Chúa cho các ngài tìm lại được niềm vui ban đầu của ngày chịu chức, khi các ngài phủ phục trên nền cung thánh và trao toàn bộ cuộc đời cho Chúa. 

Xin cầu nguyện cho những giáo dân đã từng bị linh mục làm tổn thương. Xin Chúa chữa lành những vết thương sâu kín trong lòng họ. Xin cho những lời xin lỗi cần được nói sẽ được nói ra, những trách nhiệm cần được nhìn nhận sẽ được nhìn nhận, những bất công cần được sửa chữa sẽ được sửa chữa. Xin cho không ai phải rời xa Giáo hội chỉ vì đã gặp một mục tử chưa phản chiếu được lòng nhân hậu của Chúa. Xin cầu nguyện cho những giáo dân đang mang trong lòng sự giận dữ với linh mục. Xin cho họ biết tìm kiếm sự thật, công lý và đối thoại nhưng không để lòng mình bị đầu độc bởi oán hận. Xin cho họ hiểu rằng tha thứ không có nghĩa là phủ nhận nỗi đau, nhưng là không để nỗi đau quyết định toàn bộ cuộc đời mình. Xin cầu nguyện cho tất cả chúng ta, bởi linh mục cần hoán cải, giáo dân cũng cần hoán cải, giám mục cần hoán cải, tu sĩ cần hoán cải, người làm mục vụ cần hoán cải và cả người đang chỉ trích người khác cũng cần hoán cải. Không ai đứng ngoài lời mời gọi trở về.

Xin cho chúng ta biết yêu Giáo hội không chỉ khi Giáo hội đẹp đẽ, thánh thiện và làm chúng ta tự hào, nhưng cả khi Giáo hội mang trên mình những vết thương do chính con cái mình gây ra. Bởi người thật sự yêu gia đình không phải là người chỉ khoe những điều tốt đẹp của gia đình ấy. Người thật sự yêu là người đau khi gia đình bị tổn thương, dám góp phần chữa lành và không bỏ đi chỉ vì đã gặp những điều không như ý. Giáo hội là mẹ. Mẹ có những vết nhăn, có những vết thương, mang trong mình những người con thánh thiện và cả những người con yếu đuối. Nhưng giữa tất cả những mong manh ấy, Đức Kitô vẫn không từ bỏ Hội Thánh của Người. Nếu Chúa vẫn kiên nhẫn với Giáo hội, tại sao chúng ta lại quá dễ dàng từ bỏ nhau? Nếu Chúa vẫn trao Mình và Máu Người cho những con người bất toàn, tại sao chúng ta lại chỉ muốn sống với những người không có khuyết điểm? Nếu Chúa vẫn gọi Phêrô sau những lần vấp ngã, tại sao chúng ta lại đóng mọi cánh cửa trở về của nhau? Hình ảnh một vị mục tử bật khóc hôm ấy nhắc tôi rằng Giáo hội không chỉ cần thêm những kế hoạch, những chương trình, những hội nghị hay những công trình. Giáo hội cần những trái tim biết đau, những đôi tai biết lắng nghe, những bàn tay biết nâng đỡ, những lời nói biết chữa lành, những linh mục không sợ cúi xuống, những giáo dân không vội ném đá, những con người dám nhận lỗi và những cộng đoàn biết tha thứ. Và hơn hết, Giáo hội cần mỗi người chúng ta trở về với lòng thương xót của Đức Kitô. Bởi sau cùng, Giáo hội không được cứu bởi tài năng của linh mục, sự nhiệt tình của giáo dân hay sự hoàn hảo của bất cứ con người nào. Giáo hội được cứu bởi Đức Kitô chịu đóng đinh và phục sinh. Chính Người quy tụ chúng ta, chữa lành chúng ta, tha thứ cho chúng ta và dạy chúng ta cách yêu một con người không phải vì người ấy hoàn hảo, nhưng vì người ấy là anh chị em của mình và cũng được Thiên Chúa yêu thương.

Xin cầu nguyện cho các linh mục. Xin cầu nguyện cho những người đã bị linh mục làm tổn thương. Xin cầu nguyện cho những linh mục đang bị tổn thương. Xin cầu nguyện cho các giám mục đang mang trong lòng gánh nặng của người cha. Xin cầu nguyện cho Giáo hội. Và xin cầu nguyện cho mỗi người chúng ta, để trước khi phán xét một ai, biết dừng lại một chút; trước khi chia sẻ một câu chuyện, biết kiểm chứng; trước khi kết án, biết nhìn lại chính mình; trước khi đòi người khác phải hoàn hảo, biết nhớ rằng chính mình cũng đang sống nhờ lòng thương xót. Ước gì một ngày kia, khi nhìn lại những giọt nước mắt của vị mục tử trong Thánh lễ Truyền chức Linh mục hôm ấy, chúng ta không chỉ nói rằng mình đã xúc động. Ước gì chúng ta có thể nói rằng từ ngày ấy, tôi đã cầu nguyện cho các linh mục nhiều hơn, tôi đã thận trọng hơn trong những lời mình nói, tôi đã bớt phán xét, tôi đã can đảm góp ý trong tình yêu, tôi đã học cách lắng nghe, tôi đã cố gắng trở thành người xây dựng sự hiệp nhất thay vì gieo thêm chia rẽ, và tôi đã hiểu rằng điều giữ Giáo hội ở lại với nhau không phải là sự hoàn hảo của con người, nhưng là tình yêu, sự cảm thông và lòng thương xót của Thiên Chúa.

Lạy Chúa Giêsu, Mục Tử nhân lành, xin thương gìn giữ các linh mục của Chúa. Xin cho các ngài biết sống khiêm nhường, thánh thiện và gần gũi với đoàn chiên. Xin chữa lành những người đã bị tổn thương bởi các mục tử. Xin nâng đỡ những mục tử đang cô đơn, mệt mỏi và bị hiểu lầm. Xin dạy mỗi người chúng con biết nói sự thật trong đức ái, biết góp ý mà không làm nhục, biết sửa lỗi mà không kết án, biết bảo vệ người yếu thế mà không nuôi dưỡng hận thù. Xin cho Giáo hội trở thành mái nhà của lòng thương xót, nơi những con người bất toàn không loại trừ nhau, nhưng cùng nắm tay bước về phía Chúa. Xin cho những giọt nước mắt của vị mục tử hôm ấy trở thành lời mời gọi mỗi người chúng con biết sống hiền lành hơn, khiêm nhường hơn, bác ái hơn và có trách nhiệm hơn với Giáo hội. Xin cho các linh mục biết yêu đoàn chiên bằng trái tim của Chúa và xin cho giáo dân biết yêu các linh mục bằng một tình yêu trưởng thành, chân thành và trung tín. Xin cho chúng con không bao giờ quên rằng tất cả đều là những con người yếu đuối đang sống nhờ ơn Chúa, đang được nâng đỡ bởi lòng thương xót và đang cần nhau trên hành trình trở về nhà Cha. Amen.

Lm. Anmai, CSsR 

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét