Thứ Ba, 7 tháng 4, 2026

Lễ an táng cha Antôn M. Dacaria Phan Tự Cường, O.P



“Tôi đã thấy Chúa” – và đẹp thay bước chân người loan báo Tin Mừng. Lễ an táng cha Antôn M. Dacaria Phan Tự Cường, O.P

Thứ Ba tuần Bát Nhật Phục Sinh

Kh 21,1-5a.6b-7; Cv 2,36-41; Ga 20,11-18.

Trong bầu khí trang nghiêm và xúc động của thánh lễ an táng hôm nay, chúng ta quy tụ nơi đây để tiễn biệt cha Antôn M. Dacaria Phan Tự Cường, một người anh em, một linh mục, một nhà truyền giáo đã âm thầm và bền bỉ hiến dâng đời mình cho Chúa và cho anh chị em, cách riêng cho những người đồng bào sắc tộc thân yêu nơi miền cao nguyên.


Đứng trước linh cữu cha hôm nay, chắc chắn lòng chúng ta ngập tràn tiếc thương. Cũng như bà Maria Mađalêna trong bài Tin Mừng, chúng ta đang đứng trước sự thật của mất mát, của chia ly, của nước mắt. Maria Mađalêna đã đứng bên ngoài mộ mà khóc. Còn chúng ta hôm nay cũng đang đứng đây, trước linh cữu của một người anh em thân yêu, và trong lòng không khỏi bùi ngùi, xúc động. Nhưng chính giữa những giọt nước mắt ấy, Lời Chúa Phục Sinh lại mở ra cho chúng ta một ánh sáng để đọc lại cuộc đời cha, không chỉ như một chặng đường khép lại, nhưng như một hành trình đã được sống trọn vẹn trong ơn gọi và nay được hoàn tất trong Chúa.

Điều đặc biệt trong bài Tin Mừng là thoạt đầu Maria Mađalêna không nhận ra Chúa. Bà tưởng Người là người làm vườn. Chỉ đến khi Chúa gọi đúng tên bà: “Maria”, thì mọi sự mới bừng sáng. Và từ giây phút ấy, người phụ nữ đang khóc trở nên đầy vui tươi và hăng hái; người đi tìm Chúa từ sáng sớm trở thành người đầu tiên đi loan báo Tin Mừng Phục Sinh với lời xác tín: “Tôi đã thấy Chúa”. Quả thật, Maria Mađalêna là tông đồ của các Tông đồ.


Đó cũng là điều thật sâu xa giúp chúng ta đọc cuộc đời một linh mục. Người linh mục, trước hết, không phải là người làm nhiều việc, đi nhiều nơi hay gánh nhiều trách nhiệm, nhưng là người đã được Chúa gọi đích danh, đã gặp Chúa, và vì thế không thể giữ Chúa cho riêng mình. Chính cuộc gặp gỡ với Đức Kitô làm nên căn tính sâu xa nhất của đời linh mục. Và một khi đã thực sự gặp Chúa, thì như thánh Phêrô trong bài đọc Công vụ, như Maria Mađalêna trong bài Tin Mừng, người ấy không thể không nói, không thể không sống, không thể không trở nên chứng nhân.


Vì thế, nếu cần tóm lại bài Tin Mừng hôm nay trong một câu, có lẽ đó là câu này: người đã gặp Chúa thì sẽ được sai đi. Maria Mađalêna được gọi tên để rồi được sai đến với anh em. Bà không còn đứng mãi bên mộ để than khóc, nhưng đứng lên và đi báo tin. Đức tin Phục Sinh không giữ con người lại trong nỗi buồn, nhưng làm cho họ lên đường.

Và ở đây, chúng ta gặp lại rất tự nhiên một hình ảnh trung tâm trong cuộc đời cha Antôn M. Dacaria Cường: đôi chân.

Lời ngôn sứ Isaia quả là một hình ảnh thật đẹp: “Đẹp thay, bước chân người loan báo Tin Mừng”. Hôm nay, trong ánh sáng của mầu nhiệm Phục Sinh, câu ấy lại càng sáng hơn. Bởi vì đôi chân đẹp nhất không phải là đôi chân không vướng bụi trần, nhưng là đôi chân đã từng lên đường sau khi nghe tiếng Chúa gọi, đôi chân đã đi vì Tin Mừng, đã bước tới với anh chị em mình, nhất là những người nghèo, những người bé nhỏ, những người sống ở những vùng xa.

Ngày còn nhỏ, nhiều người trong chúng ta chắc cũng từng được cha mẹ nhắc nhở: trước khi đi ngủ phải rửa chân cho sạch, vì cả ngày chạy nhảy, đi lại, đôi chân dính đầy bụi bặm. Và anh em vẫn nhớ nơi cha Cường một hình ảnh rất riêng, rất vui mà cũng rất thương: sau một ngày bộn bề, tối đến cha chỉ xoa hai bàn chân vào nhau rồi lên giường ngủ. Đến thứ Bảy, các thầy tập sinh lại sang chăm sóc đôi chân cho bề trên: ngâm chân, chà rửa, phủi đi những lớp bụi bám nơi bàn chân ấy. Nghe qua tưởng chỉ là một chi tiết đời thường. Nhưng nghĩ kỹ, đó lại là một hình ảnh rất đẹp. Vì đôi chân ấy không sạch sẽ, không bóng bẩy, không được chăm chút nhiều, nhưng đó là đôi chân của một con người đã đi nhiều, đi xa, đi không biết mệt cho sứ vụ.

Đó là đôi chân đã từng miệt mài trên chiếc xe ba gác để đi lấy rơm, lấy bèo cho bò, cho heo. Đó là đôi chân đã rong ruổi trên xe đạp ở vùng Suối Bí – Long Thành, rồi Thủ Đức – Sài Gòn. Và sau này, đó lại là đôi chân tiếp tục lên đường trên xe máy ở Ban Mê Thuột, ở Kon Tum, giữa ruộng đồng ngập nước, giữa núi rừng, giữa buôn làng, giữa những nẻo đường gập ghềnh của vùng truyền giáo. Những quãng đường ấy không chỉ là những khoảng cách địa lý, mà còn là dấu vết của một tấm lòng mục tử, của một trái tim không thể ngồi yên khi còn có người chưa được nghe Tin Mừng, còn có người cần được thăm viếng, nâng đỡ và yêu thương.

Ở đây, bài đọc Công vụ Tông đồ giúp ta hiểu sâu hơn ý nghĩa của một cuộc đời như thế. Sau khi nghe thánh Phêrô loan báo Đức Giêsu chịu đóng đinh nay đã sống lại và được Thiên Chúa đặt làm Đức Chúa và Đấng Kitô, dân chúng hỏi: “Thưa các anh, vậy chúng tôi phải làm gì?” Và thánh Phêrô trả lời: “Anh em hãy sám hối”.

Đó là câu hỏi quan trọng nhất của đức tin. Không phải chỉ là: tôi biết gì về Chúa? Nhưng là: tôi phải làm gì sau khi nghe Tin Mừng Phục Sinh? Maria Mađalêna sau khi gặp Chúa thì đi báo tin. Dân chúng sau bài giảng của Phêrô thì sám hối và đổi đời. Người môn đệ thật không dừng lại ở cảm xúc, nhưng bước sang hoán cải. Người linh mục cũng phải vậy: không chỉ rao giảng bằng lời nói, nhưng bằng cả một đời sống được Chúa chạm đến và không ngừng được uốn nắn.

Nhìn lại cha Antôn hôm nay, có lẽ chúng ta có thể nói: cha đã không chỉ giảng về Tin Mừng; cha đã bước đi trong Tin Mừng. Cha không giữ Chúa cho riêng mình. Cha không tìm cho mình sự an nhàn. Cha để cho đời mình bị đòi hỏi bởi sứ mạng. Và theo nghĩa đó, nơi cha cũng vang lên âm hưởng của chính lời thánh Phaolô: “Khốn thân tôi nếu tôi không rao giảng Tin Mừng”. Cha không sống để được nhắc nhớ nhiều về mình; cha sống để phục vụ. Cha không sống để xây dựng hình ảnh bản thân; cha sống như một người đã nghe tiếng Chúa gọi và cứ thế tiếp tục lên đường.

Thêm nữa, trong ánh sáng của Tin Mừng Phục Sinh, chúng ta còn có thể nói hơn thế nữa. Nếu cuộc đời cha là những bước chân lên đường để loan báo Tin Mừng, thì giờ đây, điều chúng ta hy vọng và cầu nguyện chính là: sau bao bước chân trên đường truyền giáo, cha được bước vào cuộc gặp gỡ trọn vẹn với Đấng mà cha đã yêu mến và phục vụ suốt đời. Nếu Maria Mađalêna đã từng thưa: “Tôi đã thấy Chúa”, thì hôm nay chúng ta cầu xin để chính cha Antôn M. Dacaria Phan Tự Cường, trong cõi sống vĩnh hằng, cũng được nói lời ấy theo nghĩa viên mãn nhất: không còn trong đức tin, nhưng trong chiêm ngắm; không còn giữa thử thách đường trần, nhưng trong niềm vui của người đầy tớ được gặp Chủ mình.

Và như thế, trước cái chết của cha, phụng vụ hôm nay không để chúng ta chỉ dừng lại ở thương tiếc. Cũng như Phêrô đã nói với dân chúng: “Anh em hãy sám hối”, thì sự ra đi của cha hôm nay cũng chất vấn mỗi người chúng ta: đời tôi sẽ đi về đâu? tôi đang sống cho điều gì? tôi có thật sự để cho Chúa gọi tên mình, biến đổi mình, và sai mình đi hay không?

Cái chết của một linh mục truyền giáo không chỉ là một mất mát; đó còn là một lời nhắc nhở mạnh mẽ cho những người còn đang sống. Cánh đồng truyền giáo vẫn còn đó. Những buôn làng vẫn còn đó. Những người nghèo vẫn còn đó. Những anh chị em bé nhỏ, những tâm hồn đang cần một chứng tá đức tin sống động vẫn còn đó. Sẽ cần những đôi chân khác tiếp tục lên đường. Sẽ cần những con người khác tiếp tục sống cùng một thao thức ấy.

Hôm nay, đôi chân của cha đã ngừng lại. Cuộc hành trình trần thế của cha đã khép lại giữa đại ngàn Tây Nguyên. Nhưng Tin Mừng mà cha đã tin, đã sống, đã loan báo, thì không dừng lại. Chúa Phục Sinh vẫn đang gọi tên những con người mới. Và Giáo hội vẫn tiếp tục được sai đi.

Chúng ta tạ ơn Chúa vì đã ban cho Dòng, cho Giáo hội và cho vùng truyền giáo một người anh em như cha Antôn M. Dacaria Phan Tự Cường. Chúng ta tạ ơn vì những bước chân đã lấm bụi đường, vì một đời sống âm thầm mà quảng đại, vì một trái tim mục tử đã biết tiêu hao cho đoàn chiên. Và hôm nay, chúng ta phó dâng cha cho lòng thương xót của Thiên Chúa, xin Chúa đón nhận cha vào nơi an nghỉ, trong Trời mới Đất mới, nơi không còn mỏi mệt, không còn bụi đường, không còn nhọc nhằn, nhưng chỉ còn ánh sáng, bình an và niềm vui của Đấng Phục Sinh.


Nguyện xin Chúa cho cha, người môn đệ đã miệt mài lên đường loan báo Tin Mừng, nay được chính Chúa gọi tên mình, và được vào hưởng niềm vui vĩnh cửu của Chủ mình.  Amen.

LINH MỤC ANTÔN MARIA DACARIA PHAN TỰ CƯỜNG

(16/11/1950 – 01/04/2026)

 

Cậu Antôn Maria Dacaria Phan Tự Cường sinh ngày 16/11/1950, tại Đà Lạt, trong một gia đình đạo hạnh. Thân phụ của cậu là ông Batôlômêô Phan Tấn Hứa, và thân mẫu là bà Anna Hồ Thị Lý.

Cậu được trở nên con Thiên Chúa qua bí tích Rửa tội ngày 20/11/1950 tại Nhà thờ Đức Bà Chuộc Kẻ Làm Tôi, Giáo phận Đà Lạt.

Từ thuở nhỏ, cậu đã ước nguyện dâng mình cho Chúa theo chân anh của mình, nên ngày 26/07/1963, cậu xin gia nhập Đệ tử viện Đa Minh tại Gò Vấp, và theo học những năm phổ thông tại trường Trung học Chân phước Liêm.

Mãn trường Đệ tử, cậu Antôn Phan Tự Cường được gửi gia nhập tập viện tại Tu viện thánh Tôma, Vũng Tàu, ngày 15/08/1970 và khấn Dòng sau khi mãn khóa tập, cũng vào ngày lễ Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời một năm sau đó, 15/08/1971 trong tay cha Bề trên Giám tỉnh Gioakim Nguyễn Văn Liêm.

1971 – 1974: thầy Antôn Maria Dacaria theo học Triết học tại Học viện Đa Minh, Thủ Đức, và nhận thừa tác vụ Đọc sách và Giúp lễ vào năm 1973 trước khi trải qua một năm thực tập mục vụ tại Long Bình và Lò Lu, Thủ Đức (1974 – 1975).

Trở lại mái trường Học viện Đa Minh, Thủ Đức trong hoàn cảnh đất nước đã đổi thay, việc học tập của thầy cũng như bao anh em đồng trang lứa gặp nhiều khó khăn, nhưng thầy vẫn kiên trì và cần mẫn bám trụ lại Học viện cho đến năm 1978, trước khi Học viện bị trưng thu. Thầy Antôn cùng một số anh em, bị liên luỵ trong biến cố này, bị tạm giam 3 tháng. Được trả tự do ngày 23/6/1978, thầy Antôn về sống với anh em trong cụm Bình Phước (Phụ xá thánh Giaxintô) đến năm 1980 thì chuyển đến giúp Giáo xứ Ngọc Đồng, Hố Nai.

Trong thời gian ở Phụ xá thánh Giaxintô, thầy Antôn được Đức Cha Aloisio Phạm Văn Nẫm, Giám mục Phụ tá Tổng giáo phận Sài Gòn đặt tay truyền chức phó tế tại Tòa giám mục Sài Gòn, ngày 26/12/1979.

1981 – 1990: thầy cùng với các anh em đi phục vụ tại vùng kinh tế mới Suối Bí (nay là Giáo xứ Minh Hòa, xã lộ 25), huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai.

1990 – 1995: thầy Antôn trở lại giúp xứ Ngọc Đồng.

Ngày 01/11/1995, tại Phụ xá Lạc Quang, thầy Antôn Maria Dacaria Phan Tự Cường được Đức cha Alexis Phạm Văn Lộc, nguyên Giám mục Giáo phận Kon Tum đặt tay truyền chức linh mục.

Sau khi lãnh tác vụ linh mục, từ 1995 đến 1999, cha Antôn ở tại Tu viện thánh Martin, Hố Nai, phụ trách Đệ tử viện dành cho các anh em trợ sĩ. Năm 1999, cha được anh em trong tu viện tín nhiệm bầu giữ chức bề trên trong hai nhiệm kỳ, từ 1999 – 2005. Trong thời gian này, cha cũng đảm nhận các chức vụ khác trong Tỉnh dòng như Đặc trách Tông đồ, thành viên Ban Cố vấn Tỉnh.

Từ 2005 – 2008: Quản đốc Đền thánh Martin, Hố Nai.

Từ 2008 trở đi, cuộc đời của cha gắn liền với sứ vụ truyền giáo cho đồng bào dân tộc thiểu số trên vùng Tây Nguyên:

– 2008 – 2011: Cha Antôn phụ trách cộng đoàn Giang Sơn, Giáo phận Ban Mê Thuột

– 2011 – 2013: Coi sóc Giáo xứ Kon Rơbang, Giáo phận Kon Tum

– 05/03/2013 – 2024: Phó Ban Loan báo Tin mừng Giáo phận Kon Tum. Từ năm 2024, Trưởng ban.

– 01/01/2014 – 2019: Linh hướng Hội dòng Ảnh Phép Lạ

– 2016 – 2023: Đặc trách Huynh đoàn Giáo dân Đa Minh, Giáo phận Kon Tum

– 2023 – 2024: Tu xá trưởng Tu xá thánh Luis Bertran, Quản nhiệm Giáo họ Plei Don, Giáo phận Kon Tum

– Từ 2023, Đặc trách gia đình liên tu sĩ Giáo phận Kon Tum

Cha được Chúa gọi về lúc 17g30, thứ Tư Tuần Thánh, ngày 01/04/2026, hoàn tất hành trình đức tin 76 năm, với 55 năm khấn dòng và 31 năm linh mục.

 

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét